Blackpink – Wikipedia tiếng Việt

Blackpink (Hangul: 블랙핑크; thường được viết cách điệu là BLACKPINK hoặc BLΛƆKPIИK)[1] là một nhóm nhạc nữ Hàn Quốc do công ty YG Entertainment thành lập và quản lý. Nhóm gồm 4 thành viên Jisoo, Jennie, Rosé, Lisa. Blackpink chính thức ra mắt với album đĩa đơn đầu tay mang tên Square One gồm hai ca khúc “Boombayah” và “Whistle”. Cả hai sau đó đã lọt vào bảng xếp hạng World Digital Songs của Billboard và bảng xếp hạng nhạc số Gaon của Hàn Quốc.[2][3]

Blackpink là nhóm nhạc nữ Hàn Quốc có thứ hạng cao nhất trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 khi đạt vị trí thứ 13 với “Ice Cream” (2020) và trên Billboard 200 với The Album (2020) ở vị trí thứ hai.[4][5] Blackpink là nhóm nhạc nữ K-pop đầu tiên lọt vào và dẫn đầu bảng xếp hạng Emerging Artists của Billboard đồng thời sở hữu ba đĩa đơn quán quân trên bảng xếp hạng World Digital Song Sales của Billboard.[6] Họ cũng là nhóm nhạc nữ Hàn Quốc đầu tiên nhận được chứng nhận từ Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) cho đĩa đơn “Ddu-Du Ddu-Du” (2018) – video âm nhạc có nhiều lượt xem nhất trên YouTube của một nhóm nhạc Hàn Quốc.[7] Blackpink cũng là nhóm sở hữu số lượng bài hát lọt vào top 40 tại Vương quốc Anh nhiều nhất. Ca khúc “Kiss and Make Up” là bài hát đầu tiên của một nhóm nhạc nữ Hàn Quốc nhận được chứng nhận từ British Phonographic Industry[8] và được chứng nhận đĩa bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Úc (ARIA).[9]

Bạn đang xem: Blackpink – Wikipedia tiếng Việt

Nhóm đã phá vỡ nhiều kỷ lục trực tuyến trong suốt quãng thời gian hoạt động. Các video âm nhạc “Kill This Love” (2019) và “How You Like That” (2020) đều từng lập kỷ lục video âm nhạc được xem nhiều nhất trong vòng 24 giờ đầu tiên kể từ khi phát hành trên nền tảng phát video trực tuyến YouTube, trong đó “How You Like That” phá ba và thiết lập hai kỷ lục Guinness thế giới.[10] Nhóm cũng trở thành nhóm nhạc Kpop đầu tiên có bốn video âm nhạc (“Ddu-Du Ddu-Du”, “Kill This Love” “Boombayah”, “As If It’s Your Last”) đạt 1 tỷ lượt xem trên nền tảng này.[11] Blackpink hiện là nhóm nhạc nữ có số lượt theo dõi nhiều nhất trên Spotify và là nhóm nhạc, nghệ sĩ nữ và nghệ sĩ châu Á có số lượt đăng ký nhiều nhất trên YouTube.[12][13]

Các giải thưởng khác của Blackpink bao gồm chiến thắng ở hạng mục “Nghệ sĩ mới của năm” tại lễ trao giải Golden Disc Awards lần thứ 31 và Seoul Music Awards lần thứ 26. Họ được tạp chí Forbes Korea công nhận là một trong những người nổi tiếng quyền lực nhất Hàn Quốc, xếp thứ nhất vào năm 2019, thứ ba vào năm 2020, thứ hai vào năm 2021[14] và là nhóm nhạc nữ Hàn Quốc đầu tiên lọt vào danh sách 30 gương mặt xuất sắc nhất dưới 30 tuổi của Forbes. Blackpink cũng là nhóm nhạc nữ K-pop đầu tiên giành giải tại Giải Video âm nhạc của MTV.[15]

Lịch sử

2010–2016: Trước khi ra mắt

… Tất cả chúng tôi đều rời bỏ mọi thứ mà mình đang làm. Toàn bộ cuộc sống của chúng tôi chỉ thay đổi trong một thời gian ngắn. Họ đưa chúng tôi vào nhóm các cô gái này và mỗi tháng lại có một lần loại trừ. Một số người về nhà chỉ sau một tháng, một số người về nhà sau 3 năm. Chứng kiến những cô gái được đào tạo cùng tôi phải trở về nhà khiến tôi càng có thêm động lực. Tất cả chúng ta đều có một giấc mơ và thật không dễ dàng nếu chỉ ở đó và tiếp tục những gì chúng tôi muốn làm … Tôi không muốn về nhà…

Jennie, Zach Sang Show, 17 tháng 4 năm 2019[16]

Blackpink được lên kế hoạch thành lập khi YG Entertainment tổ chức các buổi tuyển chọn những tân binh thuộc lứa tuổi vị thành niên và thanh thiếu niên trên toàn thế giới để thành lập một nhóm nhạc nữ mới sau khi nhóm nhạc nữ đầu tiên, 2NE1, ra mắt hồi năm 2009.[18] Theo các thành viên, việc tham gia YG với tư cách thực tập sinh tương tự như việc ghi danh vào một học viện ngôi sao nhạc pop làm việc cả ngày. Jennie cho rằng nó “nghiêm ngặt hơn cả trường học” trong khi Rosé so sánh cuộc sống tại YG như The X Factor với phòng ký túc xá.[19] Đối với những thành viên phải bỏ lại cuộc sống ở nước ngoài để tới Hàn Quốc, họ đối mặt với vô vàn gian nan khi phải thích nghi với nhịp độ luyện tập cùng với những cú sốc văn hóa.[20] Công tác chuẩn bị cho Blackpink ra mắt bắt đầu từ năm 2011 khi YG Entertainment tiết lộ vào ngày 14 tháng 11 năm 2011 rằng nhóm nhạc nữ mới của công ty sẽ ra mắt vào nửa đầu năm 2012 với từ năm đến bảy thành viên.[22] Kể từ đó, có rất nhiều những tin tức và lời đồn xung quanh về nhóm nhạc nữ mới nhưng việc ra mắt của họ bị trì hoãn mà không có thông tin nào chính thức.[23][24] Mãi đến ngày 18 tháng 5 năm 2016, YG Entertainment mới chính thức xác nhận việc đang chuẩn bị ra mắt nhóm nhạc nữ mới vào tháng 7.[25] Một đại diện của YG đã nói rằng các thành viên đã được lựa chọn thông qua nhiều năm cạnh tranh gay gắt và các kỹ năng của họ đã được công nhận sau khi trải qua một thời gian dài luyện tập.[26] YG sau đó cũng xác nhận rằng những người trước đó được giới thiệu với công chúng như những thành viên tiềm năng của nhóm nhạc nữ mới là Jang Hanna (thí sinh của Kpop Star mùa 3) và Moon Sua (thí sinh của Unpretty Rapstar mùa 2) đã không có tên trong đội hình ra mắt.[27][28]

Thành viên đầu tiên của nhóm được tiết lộ là Jennie vào ngày 1 tháng 6.[29] Cô gia nhập YG Entertainment với tư cách là thực tập sinh vào năm 2010 sau khi trở về Hàn Quốc từ New Zealand.[30] Năm 2012, cô lần đầu tiên được giới thiệu với công chúng qua bộ ảnh mang tên “Who’s that girl?” được đăng tải lên blog chính thức của YG Entertainment vào ngày 10 tháng 4.[32] Jennie liên tục được quảng bá với tư cách là thành viên của nhóm nhạc nữ mới qua những lần hợp tác với những nghệ sĩ khác cùng công ty. Cô từng đảm nhận vai chính trong video âm nhạc “That XX” năm 2012 từ EP One of a Kind của G-Dragon và từng góp giọng trong ca khúc “Black” từ album Coup d’etat của G-Dragon và trong “Special” từ album First Love của Lee Hi năm 2013.[33][34][35]

Vào ngày 8 tháng 6, hình ảnh của thành viên thứ hai là Lisa được tiết lộ.[36] Lisa chính là cô nàng bí ẩn gây nhiều ấn tượng với người hâm mộ trong đoạn video “Who’s that girl?” mà YG đăng trên Youtube vào hồi năm 2012.[36] Cô đã vượt qua buổi thử giọng đầu tiên vào năm 2010 của công ty tại Thái Lan. Với tư cách là người chiến thắng, cô là người duy nhất trong hơn 4000 thí sinh chính thức trở thành thực tập sinh của YG Entertainment vào tháng 4 năm 2011, trở thành thực tập sinh ngoại quốc đầu tiên gia nhập công ty.[30][38] Lisa từng là thành viên của nhóm nhảy “We Zaa Cool” tại Thái Lan cùng với Bambam của Got7 và nhiều người bạn khác.[39] Cô cũng xuất hiện trong video âm nhạc “Ringa Linga” của Taeyang vào năm 2013. Sau đó, Lisa trở thành người mẫu cho thương hiệu thời trang đường phố Nona9on vào năm 2015 và thương hiệu mỹ phẩm Moonshot vào năm 2016.[40]

Vào ngày 15 tháng 6, YG tiết lộ là thành viên thứ ba là Jisoo. Cô gia nhập YG Entertainment với tư cách là thực tập sinh vào tháng 7 năm 2011. Jisoo trong những năm trước khi ra mắt đã từng xuất hiện trong một số quảng cáo và video âm nhạc, bao gồm “Spoiler + Happy Ending” (2014) từ album phòng thu Shoebox của Epik High và “I’m Different” của Hi Suhyun (2014).[42] Ngoài ra, Jisoo từng góp mặt trong bộ phim Hậu trường giải trí với vai trò là diễn viên khách mời.[43] Rosé là thành viên được tiết lộ cuối cùng vào ngày 22 tháng 6. Cô đứng đầu trong số 700 ứng viên tham gia buổi thử giọng của YG Entertainment năm 2012 tại Úc, sau đó ký hợp đồng với công ty và chuyển đến Seoul vào tháng 4 năm đó và bắt đầu quãng thời gian làm thực tập sinh.[30] Rosé từng góp giọng trong ca khúc “Without You” từ EP One of a Kind của G-Dragon vào năm 2012. Tuy nhiên, cô chỉ được đề cập dưới “? từ nhóm nhạc nữ mới của YG”. Danh tính thực sự của Rosé vẫn được giữ kín trong gần 4 năm cho đến khi được chính thức giới thiệu công khai lần đầu tiên. Chỉ đến khi đó YG mới tiết lộ rằng cô từng tham gia trong ca khúc trên.[43]

Vào ngày 29 tháng 6, YG Entertainment xác nhận rằng nhóm nhạc nữ mới sẽ bao gồm bốn thành viên thay vì chín thành viên như dự kiến ban đầu của công ty, đồng thời tiết lộ Blackpink là tên chính thức của nhóm.[45] Jisoo trong một cuộc họp báo sau đó đã tiết lộ rằng nhóm từng suýt nữa ra mắt với những tên gọi như “Pink Punk”, “Baby Monster” hoặc “Magnum”.[47] Giải thích về tên gọi Blackpink, một đại diện của YG cho hay:[48][49][50]

Ý nghĩa của tên gọi Blackpink là để phản bác lại cách nhìn nhận phổ biến về màu hồng. Hồng thường được sử dụng để thể hiện vẻ xinh đẹp nhưng Blackpink mang ý nghĩa “Xinh đẹp không phải là tất cả”. Nó còn mang nghĩa biểu tượng rằng họ là một nhóm không chỉ sở hữu ngoại hình xinh đẹp mà còn cực kỳ tài năng và cá tính.

Ngày 6 tháng 7 năm 2016, YG tung ra video luyện tập vũ đạo đầu tiên của Blackpink trên nền nhạc bản remix ca khúc “Bitch Better Have My Money” của Rihanna. Clip đã thu về hàng triệu lượt xem cùng với hàng trăm nghìn lượt thích.[53] Video quay lại màn vũ đạo của nhóm thực sự cho thấy khả năng nhảy của bốn cô gái nhà YG. Ngoài Lisa là thành viên đảm nhận vị trí nhảy chính thì các thành viên còn lại với vị trí hát và rap cũng nhận được nhiều lời khen ngợi về khả năng vũ đạo. Vào ngày 29 tháng 7, YG Entertainment xác nhận rằng Blackpink sẽ ra mắt vào ngày 8 tháng 8 năm 2016.[56]

2016–2017: Ra mắt, nổi tiếng và những thành công bước đầu

Hoạt động quảng bá cho màn ra mắt của nhóm đã bắt đầu vào tuần đầu tiên của tháng 8 năm 2016 sau khi hàng loạt hình ảnh, video teaser và quảng cáo được công bố.[57][58] Với tư cách là nhóm nhạc nữ đầu tiên ra mắt dưới trướng YG Entertainment sau bảy năm, Blackpink phát hành album đơn đầu tay Square One vào ngày 8 tháng 8 năm 2016 với hai ca khúc “Boombayah” và “Whistle”.[59] Hai bài hát này ngay khi ra mắt đã nhanh chóng leo lên vị trí thứ nhất và thứ hai trên bảng xếp hạng Billboard World Digital Song Sales. Blackpink qua đó trở thành nghệ sĩ đạt được thành tích này trong khoảng thời gian nhanh nhất và là nghệ sĩ Hàn Quốc thứ ba nắm giữ hai vị trí đầu cùng lúc, sau các đồng nghiệp cùng công ty là Psy và Big Bang.[60] Ở thị trường nội địa, ca khúc “Whistle” dẫn đầu các bảng xếp hạng kỹ thuật số, tải xuống, phát trực tuyến và di động của Gaon[61][62] và giúp Blackpink trở thành nhóm nhạc K-pop đầu tiên khi ra mắt có bài hát đầu tay đạt “perfect all-kill”.[a][64] Tại bảng xếp hạng iTunes, album Square One ngay sau khi ra mắt đã giành được vị trí số 1 của Worldwide iTunes Album Chart. Nhờ đó, Blackpink trở thành nhóm nhạc thần tượng K–pop đầu tiên đạt vị trí số 1 ở bảng xếp hạng này trong thời ngắn nhất.[65] Trên nền tảng chia sẻ video YouTube, Blackpink trở thành nhóm nhạc K–pop có lượt xem video âm nhạc ra mắt nhiều nhất trong vòng 24 giờ với hơn 3,3 triệu lượt xem của “Boombayah”. Tại thị trường Trung Quốc, nhóm cũng đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng tuần, mức độ nổi tiếng, video âm nhạc và video âm nhạc K-pop của QQ Music, dịch vụ cung cấp âm nhạc trực tuyến lớn nhất nước này.[66] Blackpink có buổi biểu diễn chương trình âm nhạc đầu tiên trên Inkigayo của đài SBS, phát sóng vào ngày 14 tháng 8 năm 2016.[67] Ngày 21 tháng 8, nhóm đã dành được chiến thắng với “Whistle” trên Inkigayo chỉ 13 ngày sau khi ra mắt, phá kỷ lục trở thành nhóm nhạc nữ được đề cử và giành chiến thắng trên các show âm nhạc nhanh nhất kể từ khi ra mắt và bắt đầu quảng bá.[68] Blackpink kết thúc đợt quảng bá cho Square One vào ngày 11 tháng 9 năm 2016 với một chiến thắng khác trên Inkigayo.[69] Nhờ những thành công chỉ trong thời gian ngắn, Blackpink được giới báo chí mệnh danh là tân binh “khủng long”.[70][71]

Blackpink phát hành album đĩa đơn thứ hai Square Two gồm hai bài hát “Playing with Fire” và “Stay” vào ngày 1 tháng 11 năm 2016. Nhóm bắt đầu quảng bá trên Inkigayo vào ngày 6 tháng 11 và trên M Countdown của Mnet vào ngày 10 tháng 11.[72] “Playing with Fire” là đĩa đơn thứ hai của nhóm đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard World Digital Song Sales và là bài hát đầu tiên của 1 nhóm nhạc nữ K-pop lọt vào bảng xếp hạng Canadian Hot 100.[73][74] Tại thị trường Hàn Quốc, “Playing with Fire” đạt vị trí thứ ba trong khi “Stay” đứng ở vị trí thứ 10.[75] Thành công thương mại của Blackpink trong ngày tháng đầu tiên đã đem lại cho nhóm giải “Tân binh của năm” tại các chương trình trao giải âm nhạc cuối năm lớn của Hàn Quốc gồm Asia Artist Awards,[76] Melon Music Awards,[77] Golden Disc Awards,[78] Seoul Music Awards[79] và Gaon Chart Music Awards.[80][81] Ngoài ra, Billboard đã vinh danh Blackpink là một trong những nhóm nhạc K-pop mới xuất sắc nhất năm 2016.[82]

Ngày 15 tháng 1 năm 2017, Blackpink tiết lộ “Blink” (블링크), một từ ghép của “black” (đen) và “pink” (hồng)[83] sẽ là tên fandom chính thức của nhóm bằng một hình ảnh đăng tải lên Instagram.[84] YG giải thích rằng họ đã lấy “Bl” trong Black và “ink” trong “pink” để hợp thành từ “Blink” (lấp lánh), mang ý nghĩa là cách mà nhóm nhìn thấy người hâm mộ của họ.[85] Sáng ngày 17 tháng 5, YGEX Entertainment[b] thông báo rằng Blackpink sẽ ra mắt tại thị trường Nhật Bản vào tháng 7.[87] Để quảng bá cho nhóm, kể từ ngày 17 tháng 5, YGEX đã đăng tải hồ sơ của 4 thành viên Jisoo, Jennie, Rosé và Lisa lên trang web chính thức. Bên cạnh đó, hình ảnh của nhóm cũng được giới thiệu trên báo chí và sóng truyền hình Nhật Bản và sẽ tổ chức showcase ra mắt vào ngày 20 tháng 7 ở sân vận động Nippon Budokan và phát hành EP vào ngày 9 tháng 8.[88]

Blackpink trình diễn ca khúc “Boombayah” tại YG x UNICEF Walking Festival vào ngày 14 tháng 5 năm 2017

Ngày 22 tháng 6, nhóm phát hành đĩa đơn kỹ thuật số độc lập đầu tiên, “As If It’s Your Last”.[89][90] Bài hát ra mắt ở vị trí số một trên bảng xếp hạng World Digital Song Sales của Billboard một ngày sau khi phát hành, trở thành bản hit quán quân thứ ba của nhóm trên bảng xếp hạng này.[91] “As If It’s Your Last” sau đó đã phá vỡ kỷ lục video âm nhạc có số lượt yêu thích nhiều nhất của một nhóm nhạc nữ Hàn Quốc trên YouTube cũng như trở thành video âm nhạc của nhóm nhạc K-pop có số lượt xem nhiều nhất trong vòng 24 giờ tại thời điểm đó.[92] Vào ngày 20 tháng 7 năm 2017, Blackpink đã tổ chức một buổi giới thiệu tại sân vận động Nippon Budokan ở Tokyo với sự tham gia của hơn 14.000 người và với khoảng 200.000 người cố gắng để mua vé.[93][94] Nhóm chính thức ra mắt tại Nhật Bản vào ngày 30 tháng 8 năm 2017 sau khi phát hành đĩa mở rộng tiếng Nhật mang tên Blackpink bao gồm các phiên bản tiếng Nhật của các đĩa đơn trước đó của nhóm.[95][96] Mini album này đã đạt vị trí cao nhất trên Bảng xếp hạng Album Oricon của Nhật.[97] Tháng 11, ca khúc “As If It’s Your Last” đã xuất hiện trong một phân cảnh của bộ phim siêu anh hùng Liên minh Công lý của hãng Warner Bros.[98][99] Tại sân khấu SBS Gayo Daejeon cuối năm đó, Blackpink đã thể hiện ca khúc “As If It’s Your Last” và phần cover bài hát “So Hot” của Wonder Girls được phối lại bởi The Black Label.[100] Tại sân khấu giải thưởng Golden Disc Awards 2018, Blackpink đã trình diễn hai ca khúc “Playing With Fire” và “As If It’s Your Last” và nhận được giải “Digital Bonsang” cùng với Heize.[101] Ngoài ra, ca khúc comeback duy nhất của Blackpink năm 2017 đã lọt vào bảng xếp hạng 25 bài hát dành cho mùa hè của YouTube năm đó.[102]

Xem thêm: Người – Wikipedia tiếng Việt

2018–2019: Thành công quốc tế và chuyến lưu diễn thế giới đầu tiên

Ngày 6 tháng 1 năm 2018, Blackpink phát hành tập đầu của chương trình thực tế đầu tiên của nhóm mang tên Blackpink House gồm 12 tập.[103] Các tập được đăng tải lên YouTube và nền tảng video V Live vào tối thứ 7 hằng tuần lúc 21 giờ KST và sáng chủ nhật lúc 10 giờ sáng KST trên kênh JTBC2.[104][105] Nội dung chương trình nói về hành trình mà cả 4 thành viên chuyển đến sống tại một ký túc xá mới trong một kì nghỉ dài 100 ngày do cựu chủ tịch Yang Hyun Suk của YG Entertainment gửi tới nhóm. Vào ngày 7 tháng 2 trên YouTube, ngày 8 tháng 2 trên Instagram và trên trang chủ của Blackpink đã đăng lên 1 video tiết lộ về 1 sự kiện lớn sắp diễn ra. Điều này sẽ xảy ra nếu tổng lượt xem của Blackpink House đạt 88 triệu lượt xem trên cả YouTube lẫn V Live.[106] Sự kiện này về sau được tiết lộ chính là tập 12 của chương trình. Tập này đã lên sóng do tổng lượt xem của chương trình cả hai nền tảng đã đạt 100 triệu lượt xem. Vào ngày 28 tháng 3, Blackpink đã phát hành lại EP tiếng Nhật đầu tay của họ với tên gọi Re: Blackpink. Phiên bản kỹ thuật số bao gồm các bài hát tương tự phiên bản gốc, trong khi phiên bản vật lý bao gồm một DVD chứa tất cả các video âm nhạc và sáu bài hát bằng tiếng Hàn.[107] Vào ngày 16 và 17 tháng 5, Yang Hyun Suk đã dần hé lộ 1 phần của lightstick của nhóm trên tài khoản Instagram của mình. Cho đến ngày 23 tháng 5, hình ảnh của lightstick chính thức được đăng trên tài khoản Instagram của Blackpink và theo thông tin, lightstick do tự tay 4 thành viên thiết kế, sẽ phát hành vào ngày 28 tháng 5.[108] Theo chia sẻ của Jisoo, ban đầu nhóm gặp khó khăn khi lựa chọn lightstick phù hợp khi họ có người hâm mộ là cả nam, lẫn nữ. Do đó, lightstick đã được thiết kế theo hình cái búa, ngụ ý người hâm mộ mọi lứa tuổi, giới tính, đều có thể sử dụng nó.

Vào ngày 15 tháng 6 năm 2018, nhóm đã phát hành đĩa đơn mở rộng tiếng Hàn đầu tiên có tựa đề Square Up.[110] Ca khúc chủ đề “Ddu-Du Ddu-Du” leo lên vị trí 55 trên Billboard Hot 100 với 12,4 triệu lượt phát trực tuyến và 7.000 lượt tải xuống trong tuần theo dõi kết thúc vào ngày 21 tháng 6 năm 2018 tại Hoa Kỳ.[111] Những thành tích đó đã đưa Blackpink trở thành nhóm nhạc nữ Hàn Quốc có thứ hạng cao nhất trên bảng xếp hạng này.[111] Bên cạnh đó, sản phẩm mới của nhóm cũng góp mặt ở nhiều hạng mục khác tại Billboard. “Ddu-du Ddu-du” vươn lên vị trí số 1 tại World Digital Song Sales và cũng đứng ở vị trí số 39 trên Streaming Songs Chart.[111] Ca khúc này cũng lọt top 22 tại Canadian Hot 100, vượt thành tích của “As If It’s Your Last” (45) và “Playing With Fire” (92) trước đó.[112] Tại Vương quốc Anh, “Ddu-Du Ddu-Du” cũng đã trở thành ca khúc đầu tiên của một Nhóm nhạc nữ Kpop lọt vào Official Trending Chart với vị trí 17 và bảng xếp hạng UK Singles Chart với vị trí 78.[113] Trên trường quốc tế, mini album Square Up cũng giúp nhóm lần đầu tiên lọt vào bảng xếp hạng Billboard 200 khi dành vị trí 40 với 14.000 đơn vị tương đương và là album có thứ hạng cao nhất của một nhóm nhạc K-pop nữ tại thời điểm phát hành.[114] Đĩa đơn mở rộng này cũng dẫn đầu bảng xếp hạng Billboard World Albums,[111] các bảng xếp hạng tại Trung Quốc như QQ Music và đứng nhất bảng xếp hạng album iTunes toàn cầu trong ngày, dẫn đầu tại 44 quốc gia chỉ sau một ngày ra mắt. Tại thị trường Hàn Quốc, Square Up dành vị trí số một trên Gaon Albums Chart.[115] “Ddu-Du Ddu-Du” dẫn đầu bảng xếp hạng kỹ thuật số, tải xuống, phát trực tuyến và thiết bị di động của Gaon trong tuần thứ hai trong khi “Forever Young” đạt vị trí thứ hai.[116] Thống kê chính thức của YouTube cho thấy video âm nhạc cho “Ddu-Du Ddu-Du” thu về tổng cộng 36,2 triệu lượt xem trong vòng 24 giờ sau khi phát hành.[117] “Ddu-Du Ddu-Du” qua đó đã trở thành video trực tuyến được xem nhiều nhất trong 24 giờ đầu tiên của một nghệ sĩ Hàn Quốc và đứng ở vị trí thứ 2 trong số những video âm nhạc được xem nhiều nhất mọi thời đại trong 24 giờ đầu tiên phát hành tính đến thời điểm đó.[118]

Blackpink tham dự sự kiện fansign cho Square Up diễn ra tại AK Plaza, Bundang, 24 tháng 6 năm 2018.

Blackpink đã bắt đầu chuyến lưu diễn Nhật Bản đầu tiên, Blackpink Arena Tour 2018 tại Osaka từ ngày 24 đến ngày 25 tháng 7 để quảng bá đĩa đơn mở rộng tiếng Nhật.[119] Chuyến lưu diễn ban đầu bao gồm 6 buổi diễn khắp Osaka, Fukuoka và Chiba, tất cả đều bán cháy vé. Chính vì do nhu cầu quá lớn nên phía YG đã phải bổ sung thêm một buổi concert ở Chiba. Vào ngày 26 tháng 7, kênh YouTube chính thức của Blackpink đã cán mốc 10 triệu lượt đăng ký.[120] Thành tích này đã giúp 4 cô gái nhà YG trở thành nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên nhận nút kim cương từ YouTube, đồng thời là nghệ sĩ châu Á thứ hai làm được điều này.[121][122] Điểm dừng cuối cùng của chuyến lưu diễn Nhật Bản là buổi concert trước 50.000 người tại Kyocera Dome Osaka vào ngày 24 tháng 12 như là một món quà Giáng Sinh cho những người hâm mộ, điều này khiến nhóm trở thành nhóm nhạc nữ nước ngoài đầu tiên biểu diễn tại sân vận động mái vòm tại Nhật, sau khi ra mắt tại đây 1 năm 4 tháng.[123] Vào ngày 12 tháng 9, có thông báo rằng nhóm sẽ tổ chức buổi hòa nhạc đầu tiên tại Seoul mang tên “Blackpink 2018 Tour [In Your Area] Seoul x BC Card” tại nhà thi đấu Thể dục dụng cụ Olympic.[124] Buổi hòa nhạc này đã mở đầu chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới In Your Area World Tour, kéo dài suốt năm 2019 tới đầu năm 2020 ở Bắc Mỹ, Châu Âu, Châu Đại Dương và Châu Á. Chuyến công diễn thế giới của nhóm cuối cùng đã trở thành chuyến lưu diễn có doanh thu cao nhất của một nhóm nhạc nữ Hàn Quốc tính đến thời điểm mà nó kết thúc.[125]

Vào ngày 19 tháng 10, ca sĩ người Anh Dua Lipa đã phát hành “Kiss and Make Up” với Blackpink, một ca khúc mới cho album đầu tay cùng tên phiên bản phát hành lại của cô.[126] “Kiss and Make Up” ra mắt ở vị trí thứ 93 trên Billboard Hot 100, đánh dấu lần thứ hai Blackpink góp mặt trong bảng xếp hạng này, trở thành nhóm nhạc nữ Hàn Quốc duy nhất làm được điều này.[127] “Kiss and Make Up” cũng trở thành ca khúc thứ hai của Blackpink góp mặt trong UK Singles Chart, đạt vị trí thứ 36 và là bài hát đầu tiên lọt vào top 40 của nhóm. Họ cũng là nhóm nhạc nữ Hàn Quốc đầu tiên và là nhóm nhạc Hàn Quốc thứ ba nói chung lọt vào top 40 của bảng xếp hạng này.[128] Cũng trong tháng 10, nhóm ký hợp đồng với Interscope Records, nhóm sẽ được đại diện bởi Interscope và Universal Music Group bên ngoài châu Á.[129] Vào tháng 11 năm 2018, Blackpink công bố lịch trình lưu diễn bổ sung cho “In Your Area World Tour”, bao gồm mười buổi concert trên khắp châu Á từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2019.[130] Jennie ra mắt ca khúc solo đầu tiên mang tên “Solo”, tại concert của nhóm ở Seoul vào ngày 11 tháng 11. Bài hát và video âm nhạc chính thức phát hành vào ngày tiếp theo sau đó.[131] Album phòng thu tiếng Nhật đầu tiên của nhóm, Blackpink in Your Area, phát hành trực tuyến vào ngày 23 tháng 11 và dưới dạng đĩa cứng vào ngày 5 tháng 12.[132] Album ra mắt tại vị trí thứ 9 trên bảng xếp hạng album tiếng Nhật, đạt doanh số 13,000 bản trong tuần đầu tiên.[133]

Blackpink ra mắt tại Hoa Kỳ tại Grammy Artist Showcase 2019 của Universal Music Group, một sự kiện chỉ dành cho khách mời tại ROW ở Downtown Los Angeles vào ngày 9 tháng 2 năm 2019.[134] Sau màn trình diễn đầu tiên, Blackpink đã xuất hiện trên một số chương trình truyền hình Mỹ, bao gồm The Late Show with Stephen Colbert vào ngày 11 tháng 2,[135][136] Good Morning America vào ngày 12 tháng 2,[137]Strahan and Sara vào ngày 15 tháng 2.[139] Blackpink lên bìa tạp chí Billboard vào số tháng ba.[140] Có tổng cộng 5 phiên bản bìa, trong đó 1 phiên bản chụp chung cả nhóm, 4 phiên bản còn lại dành cho mỗi thành viên, tất cả đều được bán cháy hàng sau thời gian ngắn.

Đĩa đơn mở rộng thứ hai của nhóm Kill This Love cùng bài hát chủ đề cùng tên được phát hành vào ngày 5 tháng 4 năm 2019.[142] Tại Hoa Kỳ, “Kill This Love” đạt vị trí 24 trên bảng xếp hạng Billboard 200 trong khi ca khúc chủ đề đạt vị trí 41 trên Hot 100, trở thành sản phẩm có thứ hạng cao nhất của một nghệ sĩ đến từ Hàn Quốc trên hai bảng xếp hạng lớn của Billboard.[143] Tại Anh, ca khúc chủ đề đạt vị trí thứ 26 trên bảng xếp hạng UK Official Singles Chart trong khi album cùng tên cũng hạ cánh tại vị trí thứ 25.[145] Trên Spotify, ca khúc “Kill This Love” xuất hiện ở hạng 4 của bảng xếp hạng toàn cầu, xác lập thành tích cao nhất của một nghệ sĩ K-pop với hơn 4 triệu lượt nghe trong 24 giờ.[146] “Kill This Love” xếp ở vị trí thứ 66 trong danh sách 100 bài hát hay nhất năm 2019 của Billboard.[147] Ca khúc “Forever Young”, phát hành dưới dạng B-side từ Square Up (2018), cán mốc 2,5 triệu lượt tải xuống vào tháng 12 năm 2019, trở thành bài hát thứ năm của nhóm nói chung và thứ hai sau “Ddu-Du Ddu-Du” nhận chứng nhận bạch kim tính theo lượt tải về của Hiệp hội Công nghiệp Nội dung Âm nhạc Hàn Quốc.[148] Ngày 12 tháng 4 năm 2019, Blackpink trở thành nghệ sĩ Kpop đầu tiên biểu diễn tại Coachella.[149] Màn trình diễn của nhóm tại Coachella được cả giới phê bình lẫn người hâm mộ đón nhận nồng nhiệt, Gab Ginsberg của Billboard gọi màn biểu diễn của Blackpink “kích thích” và “khó quên”.[150][151]

Vào ngày 16 tháng 10 năm 2019, phiên bản tiếng Nhật của “Kill This Love” được phát hành tại thị trường Nhật Bản và đạt vị trí thứ 17 trên Bảng xếp hạng album Oricon.[152] Nhóm sau đó đã sang Nhật tiến hành nhiều hoạt động quảng cáo, xuất hiện trên các chương trình truyền hình âm nhạc như Music Station của TV Asahi và Love Music của Fuji TV. Ngày 11 tháng 11 năm 2019, video âm nhạc “Ddu-Du Ddu-Du” chính thức cán mốc 1 tỷ lượt xem, trở thành MV của nhóm nhạc K-pop có nhiều lượt xem nhất trên YouTube và cũng là nhóm nhạc K-Pop đầu tiên chạm tới cột mốc này.[153]

2020–nay: The Album và The Show

Blackpink trong một video quảng cáo cho PUBG Mobile vào năm 2020

Vào ngày 22 tháng 4, có thông tin xác nhận rằng nhóm sẽ hợp tác với Lady Gaga trong album phòng thu thứ sáu của cô, Chromatica, cho ca khúc mang tên “Sour Candy”, được phát hành dưới dạng đĩa đơn quảng bá vào ngày 28 tháng 5 năm 2020.[154] Trên Billboard Hot 100, bài hát ra mắt ở vị trí thứ 33, mang lại bản hit thứ 25 nằm trong top 40 của Gaga và là bản hit đầu tiên của Blackpink, trở thành bài hát có thứ hạng cao nhất của nhóm tại Hoa Kỳ vào thời điểm đó, cũng như bài hát có thứ hạng cao nhất của một nhóm nhạc nữ K-pop. Tại Úc, bài hát ra mắt ở vị trí thứ 8, trở thành bản hit có bảng xếp hạng cao nhất của Blackpink tại quốc gia này.[155] Đây cũng là đĩa đơn đầu tiên của họ lọt top 20 tại Vương quốc Anh, ra mắt ở vị trí thứ 17.[156]

Vào ngày 18 tháng 5, YG Entertainment thông báo nhóm sẽ phát hành trước một đĩa đơn vào tháng 6, tiếp theo là một đĩa đơn phát hành bổ sung từ tháng 7 đến tháng 8, nhằm quảng bá cho album phòng thu tiếng Hàn đầu tiên của họ.[157][158] Vào ngày 2 tháng 6, YG Entertainment xác nhận rằng sau khi phát hành album phòng thu này, các thành viên Rosé, Lisa và Jisoo sẽ thực hiện những dự án cá nhân, trong đó Rosé sẽ là người đầu tiên.[159] Trong quá trình chuẩn bị tái xuất của nhóm, YG Entertainment đã phát hành đoạn mở đầu của chương trình thực tế mới của Blackpink, 24/365 with Blackpink, vào ngày 13 tháng 6, trước khi chính thức ra mắt trên YouTube. Chương trình ghi lại sự trở lại năm 2020 của họ cùng với việc chia sẻ cuộc sống hàng ngày của họ thông qua các vlog.[160] Đĩa đơn “How You Like That” đã bị trêu chọc nặng nề trên phương tiện truyền thông xã hội trước khi được phát hành kỹ thuật số vào ngày 26 tháng 6.[161][162] Nó ra mắt ở vị trí thứ 12 trên Gaon Digital Chart chỉ trong một ngày và 16 giờ theo dõi đồng thời đạt vị trí số một trên các bảng xếp hạng Gaon Digital, Download và Streaming trong tuần thứ hai.[163] “How You Like That” trở thành bài hát thứ năm của Blackpink lọt vào bảng xếp hạng Billboard Hot 100 (đạt vị trí thứ 33) và video âm nhạc của nó đã phá năm kỷ lục Guinness thế giới.[164] Bài hát đứng đầu Top 10 bài hát mùa hè 2020 toàn cầu của YouTube Music[165] và chiến thắng Bài hát của mùa hè tại Giải Video âm nhạc của MTV 2020, đưa Blackpink trở thành nghệ sĩ nữ Hàn Quốc đầu tiên chiến thắng tại lễ trao giải.[166] Vào ngày 23 tháng 7, YG Entertainment thông báo rằng đĩa đơn thứ hai, “Ice Cream”, hợp tác với ca sĩ người Mỹ Selena Gomez, sẽ được phát hành vào ngày 28 tháng 8.[167][168] “Ice Cream” ra mắt và đạt vị trí thứ 13 trên Billboard Hot 100, trở thành bài hát có thứ hạng cao nhất của Blackpink trên bảng xếp hạng.[169]

Blackpink phát hành album phòng thu tiếng Hàn đầu tiên của họ, The Album, vào ngày 2 tháng 10 năm 2020, với “Lovesick Girls” là đĩa đơn thứ ba và cũng là đĩa đơn chính.[170] Trước buổi ra mắt độc quyền video âm nhạc cho “Lovesick Girls”, Blackpink đã xuất hiện trên chương trình âm nhạc mới của Youtube Released với tư cách là nghệ sĩ nổi bật đầu tiên, bao gồm những khoảnh khắc “truy cập không được lọc” của nhóm.[171] The Album đạt vị trí thứ hai trên Billboard 200 và UK Albums Chart, đưa Blackpink trở thành nữ nghệ sĩ Hàn Quốc có thứ hạng cao nhất trên mỗi bảng xếp hạng.[172][173] Album cũng lập kỷ lục doanh số tuần đầu tiên cho một nhóm nhạc nữ Hàn Quốc, với 590.000 bản vật lý được bán ra chỉ sau một ngày phát hành.[174] Blackpink trở thành nhóm nhạc nữ K-pop đầu tiên bán được hàng triệu bản với The Album, bán được khoảng 1,2 triệu bản trong vòng chưa đầy một tháng sau khi phát hành.[175] Blackpink đã biểu diễn “Lovesick Girls” trên Good Morning AmericaJimmy Kimmel Live! tại Hoa Kỳ vào ngày 21 tháng 10.[176] Bộ phim tài liệu đầu tiên của nhóm, Blackpink: Thắp sáng bầu trời, được công chiếu trên Netflix vào ngày 14 tháng 10 năm 2020 kể lại bốn năm hoạt động của nhóm kể từ khi ra mắt vào năm 2016. Bộ phim tài liệu gồm các cảnh quay từ những ngày tập luyện, nhìn lại cuộc sống gia đình của họ, những câu chuyện hậu trường và các cuộc phỏng vấn với những thành viên, cũng như cái nhìn sơ lược về quá trình sản xuất The Album.[177] Thành công của The Album, kết hợp với bộ phim tài liệu trên Netflix của nhóm, dẫn đến việc Blackpink đứng đầu Pop Star Power Ranking của Bloomberg trong tháng 10; Blackpink là nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên đứng đầu bảng xếp hạng này kể từ khi thành lập vào tháng 4 năm đó.[178][179]

Vào ngày 2 tháng 12, Blackpink công bố sự hợp tác của họ với YouTube Music cho buổi hòa nhạc trực tuyến đầu tiên của họ. Sự kiện trực tuyến được đặt tên là “The Show”, ban đầu được diễn ra vào ngày 27 tháng 12 năm 2020, nhưng do các quy định mới về đại dịch COVID-19 được áp dụng ở Hàn Quốc, nên nó đã được dời sang ngày 31 tháng 1 năm 2021.[180] Buổi hòa nhạc có màn trình diễn trực tiếp lần đầu tiên của một số bài hát nằm trong The Album, cũng như bài hát “Gone” của Rosé từ album solo đầu tiên của cô, -R-.[181] Sau đó, nó được tiết lộ rằng hơn 280.000 người đã mua tư cách thành viên để có quyền truy cập vào buổi diễn.[182]

Vào ngày 2 tháng 6 năm 2021, Universal Music Japan thông báo rằng nhóm sẽ phát hành phiên bản tiếng Nhật của The Album vào ngày 3 tháng 8 năm 2021. Nó bao gồm các phiên bản tiếng Nhật của bốn trong số tám bài hát – “How You Like That”, “Pretty Savage”, “Lovesick Girls”, “You Never Know” – và 12 phiên bản vật lý khác nhau.[183]

Vào ngày 15 tháng 6 năm 2021, YG Entertainment thông báo bắt đầu một dự án mới, được đặt tên là “4 + 1”, nhân kỷ niệm 5 năm ra mắt của nhóm.[184]

Phong cách nghệ thuật

Với một phong cách âm nhạc được nhận định là thể hiện sự biến hóa nhiều thể loại đa dạng,[185] tờ Telegraph đánh giá Blackpink là nhóm nhạc “nổi loạn” nhưng hợp thời.[186] Khác với những nhóm nhạc nữ khác tại Hàn Quốc luôn có xu hướng theo đuổi phong cách âm nhạc với hình tượng trẻ trung, vui tươi, năng động, Blackpink “nổi loạn” từ âm nhạc, giọng hát đến phong cách thời trang, trình diễn.[187] Concept chính mà Blackpink thường sử dụng trong các ca khúc của mình chính là “Black” hay “girl crush”,[c] lấy tông màu đen làm chủ đạo, thể hiện hình tượng hoặc khí chất mạnh mẽ, cá tính và chủ động.[188][189] Tuy nhiên, trong một số bài hát của mình, nhóm đã thay đổi phong cách khi sử dụng concept “Pink”, thể hiện hình ảnh nữ tính, trẻ trung và tươi vui.[190][191][192]

Âm nhạc

Khi Blackpink ra mắt vào tháng 8 năm 2016, hai ca khúc “Boombayah” và “Whistle” nhanh chóng gây chú ý nhờ giai điệu mạnh mẽ, sôi động.[195] “Boombayah” là ca khúc thuộc thể loại hip hop, house trong khi “Whistle” mang hơi hướng những nét đặc trưng của dòng nhạc EDM. Trong đĩa mở rộng Square Two phát hành vào cuối tháng 10 năm 2016, “Playing with Fire” là một ca khúc thuộc dòng nhạc tropical house mang âm hưởng mùa hè còn “Stay” là một bản acoustic kết hợp giữa các thể loại nhạc folk, blues và đồng quê. Trong khi phong cách của “Playing With Fire” gợi nhớ nhiều hơn đến màn ra mắt của Blackpink thì “Stay” mang một làn gió mới hoàn toàn đến với nhóm hay thậm chí là cả K-pop.[196] Ca khúc ngập tràn tiếng guitar và dường như thể hiện khía cạnh nhẹ nhàng của Blackpink. Đĩa đơn thứ 5, “As If It’s Your Last”, với phong cách reggae, house và moombahton mang hơi hướng đáng yêu, tươi trẻ, khác biệt hoàn toàn so với các sản phẩm trước đó của nhóm.[197] Album đầu tay của Blackpink, The Album hội tụ các thể loại nhạc pop, EDM, hiphop, trap và ballad.[198] Ca khúc chủ đề “Lovesick Girls” thuộc thể loại electro pop, nổi bật với tiếng đàn guitar tạo phong cách đồng quê xen chút retro, truyền tải đến người nghe câu chuyện về những cô gái chịu tổn thương về tình yêu và xem đây như một “căn bệnh”.[199][200] Trong khi đó, “Pretty Savage” và “Crazy Over You” là hai bài hát có giai điệu sôi động, kèm theo “vẻ quyến rũ, mới lạ, thể hiện rõ màu đen cá tính và hồng tươi trẻ”.[201]

Tạp chí Billboard cho rằng thành công của Blackpink nằm ở phần lời bài hát cuốn hút, nói rằng nhóm đã có “ý định ‘xâm chiếm toàn cầu’ được đặt ra từ khâu sáng tác ca khúc”.[202] Trong album đầu tay của nhóm, ba ca khúc “Bet You Wanna”, “Crazy Over You” và “Love to Hate Me” đều được hát hoàn toàn bằng tiếng Anh, trong khi “Ice Cream” chỉ có phần rap của Lisa là bằng tiếng Hàn.[203][204][205] Các ca khúc của Blackpink thường sử dụng những cụm từ tiếng Anh gây “ấn tượng” và “catchy”.[206][207] Những câu khẩu hiệu như “Blackpink in your area!” hay “Blackpink is the revolution” là điểm nhấn đặc trưng của nhóm.[208][209] Ngoài ra, những câu như “How you like that?”, “Look at you now look at me!”,[194] hay những cụm từ vô nghĩa như “Ddu, ddu, ddu, ddu-ddu-ddu” hay “Rum, pum, pum, pum, pum, pum, pum” cũng được đánh giá là khiến thính giả thích thú và hát theo.[210] Bên cạnh sự cuốn hút ở câu từ thì sự kỹ lưỡng, chăm chút trong khâu sáng tác là chìa khóa tạo nên thành công của từng tác phẩm. Nhà sản xuất Teddy Park trong phim tài liệu Blackpink: Thắp sáng bầu trời đã tiết lộ rằng để có được tiếng huýt sáo trong “Whistle”, Blackpink phải thu âm tới 1.000 lần.[211][212]

Hình ảnh

Bốn cô gái Blackpink tại buổi chụp hình với tạp chí Marie Claire vào đầu năm 2018

Tầm ảnh hưởng của Blackpink không chỉ dừng lại ở lĩnh vực âm nhạc, đặc biệt tại Hàn Quốc nhóm còn mở rộng sang lĩnh vực thời trang.[213] Hình ảnh của nhóm đề cao thời trang và cá tính cả trong lẫn ngoài sân khấu. Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Elle U.S, Jennie chia sẻ rằng “Thời trang thực sự đã tiếp nhiều sức mạnh cho chúng tôi không kém gì âm nhạc” trong khi Rosé bổ sung thêm rằng “âm nhạc và thời trang là [hai thứ] ‘không thể tách rời nhau'”.[214] Mặc dù trang phục có thể hiện sự đồng nhất điển hình nhưng Blackpink vẫn nổi bật hơn những nhóm nhạc nữ khác khi trang phục của mỗi thành viên đều thể hiện phong cách cá nhân của riêng từng người.[215] Blackpink thu hút được sự chú ý của quốc tế khi khoác lên mình phiên bản cách tân của hanbok (trang phục truyền thống của Hàn Quốc) trong video âm nhạc “How You Like That” và tại các buổi trình diễn trên sân khấu sau đó.[216][217]

Mỗi thành viên của Blackpink đều là đại sứ cho các thương hiệu cao cấp khác nhau.[218] Tháng 9 năm 2020, Jisoo trở thành đại sứ khu vực Hàn Quốc thương hiệu xa xỉ Dior và được Dior Beauty chọn làm “nàng thơ”.[219][220] Jennie trở thành đại sứ truyền thông của Chanel tại Hàn Quốc sau một khoảng thời gian dài, tham gia vào nhiều chiến dịch quảng cáo nước hoa, mỹ phẩm của hãng.[221][222] Cô thường được giới truyền thông mệnh danh là “Cô gái Chanel” hay “Chanel sống” bởi phong cách phù hợp với bản sắc thương hiệu.[223][224] Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Elle Korea, Rosé tiết lộ cô đã nhận lời trở thành đại sứ thương hiệu của nhà mốt Yves Saint Laurent (YSL). Thông tin Rosé trở thành đại sứ đầu tiên trong lịch sử của Saint Laurent được thông báo chính thức vào tháng 6 năm 2020, cô sau đó xuất hiện trong một chiến dịch toàn cầu quảng bá bộ sưu tập Thu 2020.[225][226] Đầu năm 2019, Hedi Slimane – Giám đốc sáng tạo của Celine kiêm nhiếp ảnh gia nổi tiếng – đã chọn Lisa làm “nàng thơ” của hãng, tạo nên bước ngoặt lớn trong hành trình thời trang của cô.[227] Tháng 9 năm 2020, Lisa trở thành đại sứ thương hiệu toàn cầu đầu tiên của nhà mốt này kể từ khi thành lập năm 1945.[228][229][230] Năm 2020, Lisa được trao vương miện đại sứ thương hiệu mới nhất khu vực Hàn Quốc cho hãng phụ kiện thời trang, trang sức Bulgari,[231] tham gia chiến dịch Serpenti và B.zero1 của hãng.[232]

Hình ảnh công chúng và đón nhận

Blackpink tại buổi hòa nhạc ở nhà thi đấu Kyocera Dome Osaka vào tháng 12 năm 2018.

Thành công trên mọi bình diện từ hình ảnh đến âm nhạc, Blackpink ngày càng thể hiện vị thế và tầm ảnh hưởng của nhóm không chỉ ở thị trường âm nhạc trong nước mà đã lan rộng khắp châu Á và còn tạo nên sức hút ở thị trường châu Âu và châu Mỹ.[186][233] Nhóm đã đạt được những thành công nho nhỏ trong những ngày đầu ra mắt. Đĩa đơn đầu tiên chỉ sau 2 tuần phát hành đã xếp ở vị trí thứ hai trong danh sách “Top 100 Idol Brand Reputations” do Viện Nghiên cứu Danh tiếng Hàn Quốc thực hiện vào tháng 8 năm 2016.[234] Kể từ đó, Blackpink dần nổi lên trở thành một trong những nhóm nhạc nổi bật nhất làng giải trí Hàn Quốc và được giới truyền thông quốc tế miêu tả bằng những mĩ từ như “nhóm nhạc nữ lớn nhất thế giới”,[214][235][236] “ban nhạc nữ K-pop lớn nhất hành tinh”[237] hay “Nữ hoàng K-pop”.[19]

Dành nhiều sự chú ý tại quê nhà, Blackpink được Forbes Korea Power Celebrity vinh danh là người nổi tiếng có sức ảnh hưởng nhất Hàn Quốc năm 2019 và người nổi tiếng có sức ảnh hưởng thứ ba vào năm 2020.[238][239] Nhiều phương tiện truyền thông quốc tế như Forbes, BillboardThe Hollywood Reporter đã công nhận sự nổi tiếng và sự đóng góp của nhóm trong việc truyền bá Làn sóng Hàn Quốc trên toàn thế giới.[19][186][240][241] Theo tạp chí Rolling Stone thì Blackpink chính là ngoại lệ của định kiến ​​rằng hầu hết các nghệ sĩ K-pop thành công ở Hoa Kỳ đều là các nhóm nhạc nam.[242] Nhóm cũng được Liên đoàn Công nghiệp thu âm quốc tế (IFPI) ghi nhận là một trong hai nghệ sĩ dẫn đầu sự phát triển của ngành công nghiệp âm nhạc Hàn Quốc.[243] Blackpink vinh dự được xuất hiện trong nhiều danh sách quyền lực, nhóm cũng là nhóm nhạc nữ đầu tiên lọt vào danh sách Forbes 30 Under 30 của Forbes.[240] Họ cũng được liệt kê vào danh sách “Time 100 Next” năm 2019 như một hiện tượng cho sự ảnh hưởng trên toàn thế giới và sức mạnh của người hâm mộ.[244] Đây là danh sách các ngôi sao đang lên có những đóng góp tích cực trong việc định hình tương lai của nhiều ngành nghề, từ kinh doanh, giải trí, thể thao cho đến chính trị, y tế và khoa học. Nhóm cũng được được tạp chí Time miêu tả là “mở ra một kỷ nguyên mới cho các nghệ sĩ Hàn Quốc khi có thể vượt qua rào cản ngôn ngữ để trình diễn trên sân khấu thế giới”. Họ là nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên được mời biểu diễn tại “Đại hội âm nhạc lớn nhất toàn cầu” Coachella.[245][246][247]

Blackpink thu hút một lượng lớn người theo dõi trên mạng xã hội và các nền tảng phát trực tuyến. Vào tháng 7 năm 2018, Blackpink trở thành nhóm nhạc K-pop đầu tiên và nhanh nhất, đồng thời là nghệ sĩ K-pop thứ hai cán mốc 10 triệu lượt đăng ký trên YouTube.[248] Họ cũng là nhóm nhạc K-pop đầu tiên và nhanh nhất nhận được nút kim cương từ YouTube. Tính đến tháng 11 năm 2020, Blackpink với hơn 50 triệu đăng ký là nhóm nghệ sĩ có số lượt đăng ký nhiều thứ hai, đồng thời là nghệ sĩ nữ được đăng ký nhiều nhất thế giới trên YouTube.[249] Các thành viên của Blackpink cũng là những cá nhân liên quan đến Hàn Quốc có số lượt người theo dõi nhiều nhất trên Instagram với Lisa đứng ở vị trí thứ nhất, Jennie thứ hai, Rosé thứ ba và Jisoo thứ tư.[250][251][252] Trước đó, vào tháng 4 năm 2019, Blackpink đã trở thành nhóm nhạc có nhiều lượt theo dõi nhất trên mạng xã hội này, vượt qua nhóm nhạc người Anh One Direction. Blackpink còn là nhóm nhạc nữ được theo dõi nhiều nhất trên Spotify vào tháng 11 năm 2019.[253][254] Tính đến tháng 9 năm 2020, hồ sơ của họ đạt con số hơn 15,3 triệu lượt theo dõi.[255]

Hoạt động khác

Quảng bá thương hiệu

Blackpink trong một quảng cáo cho Shopee vào năm 2018.

Kể từ khi ra mắt vào năm 2016, Blackpink từng ký hợp đồng quảng cáo với nhiều thương hiệu khác nhau. Blackpink là đại sứ toàn cầu của hãng Kia Motors. Nhà sản xuất xe hơi này cũng là nhà tài trợ chính cho chuyến lưu diễn thế giới In Your Area World Tour nhằm tìm cách tạo ra một sự kết nối chặt chẽ hơn với giới trẻ.[256] Tại Bắc Mỹ, Blackpink hợp tác với công ty đồ chơi Jazwares để tạo ra các dòng sưu tập đồ chơi, trong đó có một bộ sưu tập búp bê được tạo kiểu theo các trang phục mà nhóm sử dụng trong các video âm nhạc của mình.[257][258] Vào tháng 6 năm 2020, Blackpink hợp tác với ZEPETO, một dịch vụ avatar 3D của Hàn Quốc do Naver Z điều hành. Dịch vụ này cung cấp cho người hâm mộ các nhân vật tương ứng với từng thành viên Blackpink và cho phép họ xem những nhân vật này hát và nhảy, cũng như cơ hội chụp ảnh “trực tiếp” cùng thần tượng trên ứng dụng.[259] Sự kiện ký tặng người hâm mộ ảo của Blackpink trên ứng dụng đã trở nên thịnh hành và đặc biệt phổ biến với người hâm mộ quốc tế. Sự kiện trên tính đến ngày 11 tháng 9 năm 2020 đã có hơn 30 triệu người tham gia, trong đó số lượng người dùng mới tăng thêm 300 nghìn khi video biểu diễn vũ đạo “Ice Cream” được phát hành.[260] Cũng trong năm 2020, nhóm hợp tác với tựa game sinh tồn PUBG Mobile để tạo ra nhiều nội dung và sự kiện hợp tác khác nhau trong trò chơi.[261][262] Đây là lần đầu tiên PUBG Mobile sử dụng nhạc của nghệ sĩ K-pop. Sảnh đợi là khu vực mà tất cả người chơi phải đi qua, vì vậy tài khoản từ khắp nơi trên thế giới đều có thể nghe âm nhạc của Blackpink.[263]

Xem thêm: Câu chuyện về Coolmate

Tại châu Á, Blackpink hợp tác cùng Samsung thực hiện nhiều chiến dịch quảng bá các sản phẩm điện tử của hãng, chẳng hạn như thử thách #danceAwesome để quảng cáo cho dòng smartphone Galaxy A.[264] Vào tháng 8 năm 2019, Samsung đã tung ra phiên bản Blackpink đặc biệt ở Đông Nam Á cho các dòng sản phẩm bao gồm Galaxy A80, Galaxy Watch Active và Galaxy Buds.[265][266] Nhóm quảng cáo Galaxy S10 + và Galaxy Buds trong video âm nhạc “Kill This Love”, phát hành vào hồi tháng 4 năm 2019.[267] Tháng 11 năm 2018, Blackpink trở thành đại diện khu vực đầu tiên cho nền tảng thương mại điện tử Shopee của Singapore trong khuôn khổ quan hệ đối tác với Tập đoàn YG tại Đông Nam Á và Đài Loan.[268][269] Ngân hàng Thái Lan KBank bắt đầu hợp tác với Blackpink để mở rộng phạm vi tiếp cận với các khách hàng trẻ tuổi vào tháng 11 năm 2019.[270] Vào năm tháng 9 năm 2020, nhóm chính thức trở thành đại diện cho Pepsi khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.[271] Pepsi đã cùng Blackpink đồng sản xuất những thước phim quảng cáo về công việc và cuộc sống của bốn thành viên nhằm khuấy động cộng đồng người trẻ. Với thông điệp “Chúng tôi thách thức giới hạn, chúng tôi theo đuổi sự hoàn hảo”, Blackpink muốn gửi gắm tới giới trẻ rằng họ hãy sống hết mình vì đam mê, sẵn sàng từ chối những điều chưa phù hợp và dám vượt qua mọi giới hạn để theo đuổi sự hoàn hảo.[272]

Blackpink tại sự kiện sinh nhật lần thứ 70 của Adidas vào ngày 9 tháng 10 năm 2019

Tại Hàn Quốc, Blackpink từng là đại sứ thương hiệu hoặc người mẫu quảng bá của thương hiệu đồ thể thao Adidas,[273] khách sạn và khu nghỉ dưỡng sang trọng Paradise City,[274] thương hiệu kính áp tròng Olens[275] và thương hiệu chăm sóc tóc Mise-En-Scène.[276] Vào tháng 7 năm 2018 và tháng 8 năm 2020, nhóm đứng vị trí thứ nhất trong bảng xếp hạng thương hiệu dựa trên các phân tích của Viện Nghiên cứu Danh tiếng Hàn Quốc, trở thành nghệ sĩ nữ duy nhất làm được điều này.[277][278] Blackpink trở thành đại sứ danh dự cho công ty dịch vụ hải quan Incheon Main Customs, tại đó gương mặt của họ xuất hiện trên các biểu ngữ và video được sử dụng để chào đón du khách nước ngoài tại Sân bay Quốc tế Incheon.[279] Tháng 4 năm 2018, nhóm ký hợp đồng quảng cáo cho nhãn hiệu đồ uống Sprite Korea.[280] Tháng 1 năm 2019, nhóm trở thành người đại diện của Woori Bank, mục đích tìm cách mở rộng phạm vi tiếp cận thị trường tiêu dùng trẻ và toàn cầu nhờ vào sự nổi tiếng của Blackpink.[281] Nhóm cũng xác nhận và hợp tác với một số thương hiệu cao cấp khác bao gồm thương hiệu đồ thể thao Puma và Reebok,[282][283] hãng thời trang cao cấp Louis Vuitton và Dior Cosmetics,[284][285] thương hiệu mỹ phẩm Moonshot,[286] thương hiệu túi xách St. Scott London[287] và trung tâm thương mại Shibuya 109.[288] Blackpink cũng đã hợp tác với Tokyo Girls Collection x Cecil McBee để phân phối mặt hàng của hãng tại Nhật Bản.[289]

Năm 2020, Blackpink trở thành gương mặt đại diện của Tokopedia, một trang mua sắm trực tuyến của Indonesia,[290] đồng thời cũng trở thành đại sứ thương hiệu của Globe Telecom, nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn ở Philippines.[291]

Hoạt động từ thiện

Tháng 12 năm 2018, Blackpink đã quyên góp số tiền thưởng mà nhóm đã nhận được trong Elle Style Awards 2018 trị giá 20 triệu won (khoảng 16.630 đô la Mỹ) cho các hộ gia đình cha mẹ đơn thân có thu nhập thấp ở Hàn Quốc.[292] Tháng 4 năm 2019, Blackpink đã quyên góp 40 triệu won (khoảng 33.300 đô la Mỹ) cho Hiệp hội Nhịp cầu Hy vọng Cứu trợ Thảm họa Quốc gia cho các nạn nhân của vụ cháy rừng Goseong ở Hàn Quốc.[293] Vào tháng 12 năm 2019, Lisa đã quyên góp 100.000 baht đến những nạn nhân của trận lũ lụt tại quê nhà Buriram, Thái Lan của cô.[294] Tháng 4 năm 2020, Blackpink đã phát hành mặt nạ thông qua công ty bán hàng trực thuộc UMG là Bravado. Tất cả số tiền thu được đều được quyên góp cho sáng kiến MusiCares của Viện hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Thu âm Quốc gia. Sáng kiến này đã phát động một quỹ cứu trợ đối phó với đại dịch COVID-19 và tác động của nó đối với ngành công nghiệp âm nhạc.[295] Tháng 12 năm 2020, nhóm đã tuyên bố hợp tác với Đại sứ quán Anh tại Seoul để nâng cao nhận thức về chủ đề biến đổi khí hậu trước thềm Hội nghị Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu năm 2021.[296]

Thành viên

Ghi chú
  • YG từng trả lời truyền thông rằng: Blackpink sẽ không có trưởng nhóm vì công ty mong muốn cả bốn thành viên cùng hỗ trợ lẫn nhau.[301]
  • Lisa là thành viên ngoại quốc đầu tiên trong một nhóm nhạc của công ty YG Entertainment.[302]
  • Jennie là thành viên đầu tiên của nhóm được ra mắt solo. Video âm nhạc mang tên “Solo” của cô được ra mắt vào ngày 12 tháng 11 năm 2018.[131]
  • Rosé là thành viên thứ hai của nhóm được ra mắt solo với album đĩa đơn -R- vào ngày 12 tháng 3 năm 2021.[303]
  • Jisoo là thành viên đầu tiên của nhóm được ra mắt với tư cách một diễn viên. Vai diễn của cô là Youngcho – nhân vật chính trong bộ phim Snowdrop của đài JTBC sẽ lên sóng vào nửa cuối năm 2021.[304]

Danh sách đĩa nhạc

Tiếng Hàn
  • The Album (2020)
Tiếng Nhật
  • Blackpink in Your Area (2018)

Danh sách phim và chương trình truyền hình

  • Blackpink House (2018, V Live / YouTube / JTBC2)[305]
  • YG Future Strategy Office (2018, Netflix)[306][d]
  • Blackpink X Star Road (2018, V Live)
  • Blackpink Diaries (2019, V Live / YouTube)
  • 24/365 with Blackpink (2020, YouTube)[160]
  • Blackpink: Thắp sáng bầu trời (2020, Netflix)[177]
  • Blackpink: The Movie (2021, phim chiếu rạp)[307]

Lưu diễn

Các buổi hòa nhạc

  • Blackpink Japan Premium Debut Showcase (2017)
  • The Show (2021)

Các chuyến lưu diễn

  • Blackpink Arena Tour 2018
  • Blackpink 2018 Tour In Your Area Seoul x BC Card
  • Blackpink 2019 World Tour In Your Area

Giải thưởng và thành tựu

Nhóm đã đạt được nhiều giải thưởng lớn trong nước và quốc tế, bao gồm 3 People’s Choice Awards, 1 Teen Choice Award, MTV Video Music Award, 5 Gaon Chart Music Awards, 4 Golden Disc Awards, 3 Melon Music Awards, 7 Mnet Asian Music Awards, 2 Seoul Music Awards và 5 kỷ lục Guinness thế giới.

Tháng 11 năm 2019, video âm nhạc “Ddu-Du Ddu-Du” trở thành video âm nhạc đầu tiên của nhóm nhạc K-pop cán mốc 1 tỷ lượt xem.[308][309] Sau khi ca khúc và video âm nhạc “How You Like That” phát hành vào ngày 26 tháng 6 năm 2020, Blackpink đã phá 5 kỷ lục Guinness thế giới bao gồm cả kỷ lục video âm nhạc và video có lượt xem ngày đầu cao nhất trên YouTube (đạt 82,3 triệu lượt xem trong vòng 24 giờ đầu). Ngoài ra “How You Like That” cũng là video có lượt xem công chiếu cao nhất lịch sử YouTube với hơn 1,6 triệu lượt xem.[310] Lần lượt vào các ngày 2 tháng 9 năm 2020, 12 tháng 10 năm 2020, 23 tháng 4 năm 2021, ba video “Kill This Love”, “Boombayah”, “As If It’s Your Last” lần lượt đạt được 1 tỷ lượt xem trên nền tảng video trực tuyến YouTube.[311][312] Điều này khiến Blackpink trở thành nhóm nhạc Kpop đầu tiên và duy nhất tính đến thời điểm giữa năm 2021 có 4 video âm nhạc chạm mốc 1 tỷ lượt xem trên YouTube.[313][314]

Chú thích

Ghi chú

  1. ^ Perfect All-Kill là một thuật ngữ tại Hàn Quốc dùng để chỉ một ca khúc đứng đầu tất cả các bảng xếp hạng tuần trong nước ở thời gian thực.[63]
  2. ^ YGEX Entertainment là công ty hợp tác giữa YG và AVEX, chuyên phụ trách hoạt động của nghệ sĩ YG tại Nhật.[86]
  3. ^ “Girl crush” là cụm từ dùng để chỉ sự yêu mến, tôn sùng của cô gái này đối với cô gái khác. Trong K-pop, “girl crush” là một xu hướng rất thịnh hành những năm gần đây. Điểm chung của các nữ thần tượng này là: họ đều có hình tượng hoặc khí chất mạnh mẽ, cá tính và chủ động.
  4. ^ Khách mời trong tập đầu tiên.

Tham khảo

  1. ^ O, Desirée (ngày 13 tháng 10 năm 2020). “This is how Blackpink really got their name”. Nicki Swift (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2020.
  2. ^ “국내 대표 음악 차트 가온차트!”. Bảng xếp hạng Âm nhạc Gaon (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2020.
  3. ^ @chartdata (ngày 16 tháng 4 năm 2019). “BLACKPINK’s “BOOMBAYAH” re-enters this week’s World Digital Song Sales chart (#24)” (Tweet) – qua Twitter.
  4. ^ Trust, Gary (8 tháng 9 năm 2020). “Blackpink Hits New Hot 100 High With Debut of Selena Gomez Collab ‘Ice Cream’ ”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 12 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2020.
  5. ^ “21 Savage & Metro Boomin’s ‘Savage Mode II’ Debuts at No. 1 on Billboard 200 Chart”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 17 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2020.
  6. ^ Zellner, Xander (27 tháng 6 năm 2018). “Blackpink Is First All-Female K-Pop Group to Top Emerging Artists Chart”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 18 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2020.
  7. ^ Herman, Tamar (3 tháng 8 năm 2019). “Blackpink Receive First RIAA Certification for ‘Ddu-Du Ddu-Du’ ”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 4 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2020.
  8. ^ Adejobi, Alicia (26 tháng 10 năm 2018). “Blackpink become first female K-pop group to enter UK Top 40 chart”. Metro (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2021.
  9. ^ Anna (ngày 27 tháng 10 năm 2019). “” Kiss and Make Up” của Black Pink nhận được chứng nhận bạch kim từ Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc (ARIA)”. Billboard Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2020.
  10. ^ “Blackpink’s return sets new YouTube records with How You Like That”. Guinness World Records (bằng tiếng Anh). 30 tháng 6 năm 2020. Bản gốc lưu trữ 3 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2020.
  11. ^ Yonhap (ngày 13 tháng 10 năm 2020). “BLACKPINK’s ‘Boombayah’ tops 1b YouTube views”. The Korea Herald (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  12. ^ Ana Monroy Yglesias (2 tháng 7 năm 2020). “” How You Like That:” Blackpink Breaks Multiple Records With Latest Music Video”. Giải Grammy (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2020.
  13. ^ “Blackpink are music group with highest number of YouTube subscribers”. The Straits Times (bằng tiếng Anh). 10 tháng 9 năm 2019. Bản gốc lưu trữ 27 tháng 10 năm 2020. Truy cập 6 tháng 7 năm 2020.
  14. ^ Seung-il, Oh (23 tháng 4 năm 2019). “포브스코리아 선정 2019 파워 셀러브리티 40”. JoongAng Ilbo (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2020.
  15. ^ Magpili, Erika (ngày 7 tháng 9 năm 2020). “Here’s What K-Pop Superstars BTS and BLACKPINK Won at 2020 MTV Video Music Awards”. PULP Live World (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 24 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2020.
  16. ^ Zach Sang Show (ngày 17 tháng 4 năm 2019). BLACKPINK Talks “Kill This Love”, Coachella & How They Formed. YouTube (bằng tiếng Anh). Sự kiện xảy ra vào lúc 14:00. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020. …We all had one dream, and it wasn’t an easy thing to just stay there and go on with what we wanted to do… I didn’t want to go home…
  17. ^ Glasby, Taylor (ngày 31 tháng 8 năm 2020). “How Blackpink became the biggest K-pop girl band in the world”. Vogue Paris (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2020.
  18. ^ a b c Feeney, Nolan (28 tháng 2 năm 2019). “Inside Blackpink’s U.S. Takeover: How the K-Pop Queens Are Changing the Game”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 8 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2020.
  19. ^ Liao, Marina (ngày 14 tháng 10 năm 2020). “The Intimate Backstory of How Each BLACKPINK Member Became a Star”. Marie Claire (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 18 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  20. ^ “Super Star K2’s Kim Eun-bi To Debut As YG Entertainment Group”. KBS World (bằng tiếng Anh). 11 tháng 11 năm 2011. Bản gốc lưu trữ 21 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2020.
  21. ^ “G-Dragon turns producer for YG’s new girl group”. The Korea Herald (bằng tiếng Anh). 3 tháng 9 năm 2012. Bản gốc lưu trữ 12 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2020.
  22. ^ “YG Entertainment Delays New Girl Group Debut Yet Again”. Popdust (bằng tiếng Anh). 26 tháng 2 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
  23. ^ “YG Entertainment reveals first member of the new girl group”. SBS PopAsia (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 5 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
  24. ^ “[단독]2NE1 데뷔 후 7년, YG 걸그룹 자매의 탄생”. Naver (bằng tiếng Hàn). Osen. 18 tháng 5 năm 2016. Bản gốc lưu trữ 31 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2020.
  25. ^ “[단독] YG 신인 걸그룹..’1순위’라던 장한나 없다 ‘확인’ ”. Daum (bằng tiếng Hàn). Ilgan Sports. 19 tháng 5 năm 2016. Bản gốc lưu trữ 29 tháng 10 năm 2020. Truy cập 1 tháng 8 năm 2020.
  26. ^ “’ 언프리티’ 문수아도 YG 新걸그룹 NO “새 인물多” ”. Daum (bằng tiếng Hàn). Star News. 20 tháng 5 năm 2016. Bản gốc lưu trữ 8 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2020.
  27. ^ “YG 걸그룹, 첫 멤버 제니 공개..실력+비주얼 다 갖췄다”. Osen (bằng tiếng Hàn). 1 tháng 6 năm 2016. Bản gốc lưu trữ 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2020.
  28. ^ a b c Ji, Seung-hoon (7 tháng 7 năm 2018). “[Y기획②]멤버를 알면 ‘진짜’ 블랙핑크가 보인다”. YTN (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2020.
  29. ^ “YG 미스테리걸 등장, 눈에 띄는 미모 新걸그룹 멤버(?)”. Financial News (bằng tiếng Hàn). Naver. 20 tháng 4 năm 2012. Bản gốc lưu trữ 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  30. ^ “YG새걸그룹’ 김제니, GD 뮤비 여주인공 전격발탁”. Star News (bằng tiếng Hàn). 29 tháng 8 năm 2012. Bản gốc lưu trữ 6 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2020.
  31. ^ “The Making of G-Dragon’s “Coup D’Etat” “Black” feat. Jennie Kim”. Complex (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 11 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2020.
  32. ^ “YG 새 걸그룹 김제니, 이하이 첫 솔로앨범 참여 ‘눈길’ ”. EDaily (bằng tiếng Hàn). 4 tháng 3 năm 2013. Bản gốc lưu trữ 30 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2020.
  33. ^ a b “[뮤직톡톡]제니 이어 리사..YG 걸그룹=걸크러시?”. Osen (bằng tiếng Hàn). 8 tháng 6 năm 2016. Bản gốc lưu trữ 30 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2020.
  34. ^ Mitchell, Molli (ngày 16 tháng 10 năm 2020). “Blackpink Lisa Instagram: How to follow Lisa on Instagram”. Express (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  35. ^ Koh, Lydia (ngày 22 tháng 9 năm 2019). “Lisa of BLACKPINK donates to help flood victims in Thailand”. The Independent Singapore (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  36. ^ “[블랙핑크 VS 투애니원③] 블랙핑크는 누구?”. Donga News (bằng tiếng Hàn). 12 tháng 8 năm 2016. Bản gốc lưu trữ 5 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2020.
  37. ^ Phúc Chi (ngày 22 tháng 10 năm 2013). “Mỹ nhân nhà YG chưa ra mắt đã gây bão”. Zing News. Bản gốc lưu trữ 11 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  38. ^ a b Jeon, Won (15 tháng 6 năm 2016). “YG 걸그룹 지수 티저공개, 센터 차지할 꽃미모”. Naver (bằng tiếng Hàn). Osen. Bản gốc lưu trữ 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  39. ^ Hye-seong, Gil (29 tháng 6 năm 2016). “YG新걸그룹은 4인조 ‘블랙핑크’..최종멤버 이미 밝힌 4인”. Star News (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  40. ^ “[Oh!쎈 토크] 블랙핑크가 직접 밝힌 #3대기획사 경쟁 #YG #2NE1”. Naver (bằng tiếng Hàn). Osen. 3 tháng 11 năm 2016. Bản gốc lưu trữ 22 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  41. ^ Hải Minh (ngày 15 tháng 6 năm 2020). “Ý nghĩa thực sự ẩn sau tên gọi nhóm nhạc Blackpink đình đám showbiz Hàn”. Lao Động. Bản gốc lưu trữ 9 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  42. ^ “YG 새 걸그룹, ‘블랙 핑크’ 이름의 뜻은?[YG 새 걸그룹 최종발표③]”. Naver (bằng tiếng Hàn). Osen. 29 tháng 6 năm 2016. Bản gốc lưu trữ 11 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  43. ^ Paul, Anna (ngày 13 tháng 4 năm 2019). “What does BLACKPINK mean and what songs do they sing as k-pop band storms Coache”. Metro (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 14 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  44. ^ “YG, ‘데뷔 임박’ 블랙핑크 첫 완전체 안무영상 공개”. Naver (bằng tiếng Hàn). Sports Donga. 6 tháng 7 năm 2016. Bản gốc lưu trữ 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  45. ^ Jin, Min-ji (29 tháng 7 năm 2016). “YG’s new group BlackPink debuts in August”. Korea JoongAng Daily (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 31 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  46. ^ 박소영 (ngày 6 tháng 8 năm 2016). “블랙핑크, 이번엔 몽환+섹시..NEW 타이틀곡은 ‘휘파람’ ”. Osen (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ 10 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  47. ^ 박소영 (ngày 6 tháng 8 năm 2016). “” YG의 청초꽃 떴다”..블랙핑크 지수, 개인 포스터 공개”. Osen (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ 23 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  48. ^ Kim Yu-young (ngày 9 tháng 8 năm 2016). “YG Entertainment unveils K-pop group BlackPink”. Kpop Herald (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 6 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  49. ^ Benjamin, Jeff (ngày 16 tháng 8 năm 2016). “Blackpink’s Major Debut: New K-Pop Girl Group Lands No. 1 & 2 on World Digital Songs Chart”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 8 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  50. ^ Jeon Su Mi (10 tháng 8 năm 2016). “Blackpink Sweeping Charts Within 2 Days of Debut”. Mwave (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 13 tháng 8 năm 2016. Truy cập 13 tháng 8 năm 2016.
  51. ^ Doanh số tích lũy của “Whistle”:
    • “Bảng xếp hạng trực tuyến – 2016 (xem Số 2 & #16)”. Gaon Music Chart. Bản gốc lưu trữ 13 tháng 9 năm 2016.
    • “Bảng xếp hạng trực tuyến – 2016 (xem Số 1 & #12)”. Gaon Music Chart. Bản gốc lưu trữ 13 tháng 9 năm 2016.
    • “Bảng xếp hạng trực tuyến – 2016 (xem Số 1 & #13)”. Gaon Music Chart. Bản gốc lưu trữ 13 tháng 9 năm 2016.
    • “Bảng xếp hạng trực tuyến – 2016 (xem Số 2 & #15)”. Gaon Music Chart. Bản gốc lưu trữ 13 tháng 9 năm 2016.
    • “Bảng xếp hạng trực tuyến – 2016 (tích lũy – xem Số 1 & #17)”. Gaon Music Chart. Bản gốc lưu trữ 13 tháng 9 năm 2016.

  52. ^ “Here’s all 83 Perfect-All-Kills in K-pop chart history: 2010 to now”. SBS PopAsia (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  53. ^ Baro (ngày 7 tháng 3 năm 2020). “Loạt hit đưa tên tuổi cựu thành viên iKON B.I thành “chàng trai vàng trong làng sáng tác” của K-Pop”. Billboard Việt Nam. Bản gốc lưu trữ 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  54. ^ “Black Pink to release new EP ‘Square Two’ in November”. Yonhap News Agency (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 10 năm 2016. Bản gốc lưu trữ 10 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  55. ^ “BLACKPINK wraps up performances for their debut single… “Will come back quickly” ”. YG-Life (bằng tiếng Anh). YG Entertainment. 12 tháng 9 năm 2016. Bản gốc lưu trữ 8 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  56. ^ 미모에 실력까지…인기가요 블랙핑크 등장에 남심 ‘흔들’. Herald Business (bằng tiếng Hàn). 15 tháng 8 năm 2016. Bản gốc lưu trữ 24 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  57. ^ Baro (ngày 28 tháng 2 năm 2019). “Đây là những “tân binh khủng long” có thời gian giành cúp âm nhạc nhanh nhất tại K-Pop (Phần 1)”. Billboard Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  58. ^ Lim Jeong-yeo (ngày 12 tháng 9 năm 2016). “Black Pink wraps it up for now with another ‘Inkigayo’ win”. Kpop Herald (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  59. ^ “” Boombayah” của Black Pink cán mốc 800 triệu view”. KBS World. ngày 25 tháng 2 năm 2020. Bản gốc lưu trữ 11 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020.
  60. ^ Giả Bình (ngày 31 tháng 7 năm 2017). “Nhóm nhạc Black Pink: Những nàng ‘tân binh quái vật’ xứ Hàn”. Thể thao & Văn hóa (bằng tiếng Việt). Thông tấn xã Việt Nam. Bản gốc lưu trữ 11 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  61. ^ “[단독] 블랙핑크, 1월6일 ‘인기가요’+10일 ‘엠카’ 연속 컴백 확정” (bằng tiếng Hàn). 29 tháng 10 năm 2016. Bản gốc lưu trữ 16 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  62. ^ Benjamin, Jeff (11 tháng 11 năm 2016). “Blackpink Earn Second No. 1 on World Digital Songs, Debut on Social 50”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 8 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  63. ^ “A Timeline of Blackpink’s History-Making Accomplishments”. Billboard (bằng tiếng Anh). 28 tháng 7 năm 2020. Bản gốc lưu trữ 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  64. ^ “2016년 45주차 Digital Chart”. Gaon Digital Chart (bằng tiếng Hàn). Hiệp hội Nội dung Công nghiệp Âm nhạc Hàn Quốc. Bản gốc lưu trữ 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  65. ^ “’ AAA’ 조진웅∙엑소 대상…방탄소년단∙박보검∙윤아 2관왕 [종합]”. TV Daily. 16 tháng 11 năm 2016. Bản gốc lưu trữ 30 tháng 10 năm 2020. Truy cập 4 tháng 1 năm 2018.
  66. ^ Chung Joo-won (ngày 20 tháng 11 năm 2016). “BTS, EXO, TWICE top 2016 Melon Music Awards”. Yonhap News Agency (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
  67. ^ “The 31st Golden Disk Awards nominations are revealed” (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 8 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  68. ^ “ASeoul Music Awards”. Seoul Music Awards (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 14 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  69. ^ “[6th 가온차트]”더 없이 공정했다”..엑소 4관왕·블랙핑크 3관왕(종합)”. Herald Pop (bằng tiếng Hàn). 22 tháng 2 năm 2017. Bản gốc lưu trữ 7 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  70. ^ Vân Anh (ngày 14 tháng 12 năm 2019). “Black Pink và Twice đều lọt BXH tân binh thập kỷ với thành tích khủng”. Lao Động. Bản gốc lưu trữ 15 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  71. ^ Herman, Tamar (21 tháng 12 năm 2016). “10 Best New K-Pop Groups in 2016”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 8 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  72. ^ Mendez, Michele (ngày 23 tháng 7 năm 2020). “The Meaning Behind Your Fave K-Pop Groups’ Fandom Names Are So Deep”. Elite Daily (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 10 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  73. ^ Jie Ye-eun (17 tháng 1 năm 2017). “Blackpink reveals fan club name”. The Korea Herald (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 5 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  74. ^ SEO (ngày 29 tháng 1 năm 2019). “BLINK nghĩa là gì? Định nghĩa về Fan BLINK trong KPOP”. Thể thao & Văn hóa (bằng tiếng Việt). Thông tấn xã Việt Nam. Bản gốc lưu trữ 10 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  75. ^ “YGEX オフィシャルレーベルサイト” [YGEX Official Website]. YGEX (bằng tiếng Nhật). YG Entertainment và Avex Group. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  76. ^ “블랙핑크, 日 진출…7월 부도칸서 첫 쇼케이스” (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ 25 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2017.
  77. ^ “8/30(水)発売 日本デビューミニアルバム「BLACKPINK」よりM/V(JP ver.)公開!”. BLACKPINK OFFICIAL WEBSITE (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ 10 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2017.
  78. ^ Baro (ngày 28 tháng 1 năm 2019). “Black Pink tiếp tục thắng thế trong cuộc đua tỷ view tại K-Pop”. Billboard Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  79. ^ Kim Jae-heun (22 tháng 6 năm 2017). “Blackpink reveals digital single before Japanese showcase”. The Korea Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 22 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  80. ^ Benjamin, Jeff. “Blackpink Score Third No. 1 on World Digital Song Sales Chart, Lead K-Pop Females”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 29 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  81. ^ “Blackpink now have the most liked K-pop girl group MV on YouTube” (bằng tiếng Anh). SBS Australia. 18 tháng 9 năm 2017. Bản gốc lưu trữ 10 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  82. ^ “Blackpink、遂に初お披露目パフォーマンス ファン1万4000人とピンク一色の会場に<ライブレポ/セットリスト> – モデルプレス”. モデルプレス – ライフスタイル・ファッションエンタメニュース (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ 21 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  83. ^ 史上初!Blackpink が日本デビュー前に武道館、1万人超熱狂. sanspo.com (bằng tiếng Nhật). 20 tháng 7 năm 2017. Bản gốc lưu trữ 29 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  84. ^ 블랙핑크, 日 오리콘 주간차트 1위..”데뷔앨범 역대 3번째” (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ 18 tháng 6 năm 2020. Truy cập 5 tháng 9 năm 2017.
  85. ^ Tổng doanh thu album của Blackpink tại Nhật:
    • 【オリコン】Blackpink、アルバム初登場首位デビュー 海外歌手3組目-. Oricon (bằng tiếng Nhật). Oricon. Bản gốc lưu trữ 4 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.

  86. ^ “2017年08月28日~2017年09月03日 オリコン週間 アルバムランキング”. Oricon News. Bản gốc lưu trữ 10 tháng 11 năm 2020. Truy cập 30 tháng 7 năm 2020.
  87. ^ Bell, Crystal (ngày 17 tháng 11 năm 2017). “We Need To Talk About That K-Pop Moment In Justice League”. MTV News (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020.
  88. ^ “Turns out there’s going to be a LOT of Black Pink in ‘Justice League’ ”. SBS PopAsia (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 11 năm 2017. Bản gốc lưu trữ 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020.
  89. ^ Re, Gisela (ngày 27 tháng 12 năm 2017). “BLACKPINK Bikin ‘Pecah’ SBS Gayo Daejun 2017, Apa yang Terjadi?”. IDN Times (bằng tiếng Indonesia). Bản gốc lưu trữ 11 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  90. ^ 이하나 (ngày 10 tháng 1 năm 2018). “[2018 골든디스크] 아이유, 대상 영예…윤종신 첫 본상·워너원 신인상(종합)”. 서울경제 (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  91. ^ Fernandez, Suzette (7 tháng 9 năm 2017). “Latin Artists Take Over YouTube’s Top 25 Global Songs of the Summer”. Billboard. Bản gốc lưu trữ 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  92. ^ Lee, Hana (29 tháng 12 năm 2017). “블랙핑크 첫 리얼리티 ‘블핑하우스’, 1월6일 첫방…12회 방송”. Sedaily (bằng tiếng Hàn). Seoul Economic Daily Co. Ltd. Bản gốc lưu trữ 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  93. ^ Hùng Nguyễn (ngày 6 tháng 1 năm 2018). “Để trở thành tâm điểm chú ý trong các show thực tế, đây là cách Seung Ri luôn sử dụng”. Thể thao & Văn hóa. Thông tấn xã Việt Nam. Bản gốc lưu trữ 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  94. ^ Thẩm Lạc Gia (ngày 23 tháng 11 năm 2017). “睇《正義聯盟》未夠喉? YG開拍《BLACKPINK HOUSE》Lisa即跪低!”. 香港01 [Hương Cảng 01] (bằng tiếng Trung). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  95. ^ Blackpink (ngày 7 tháng 2 năm 2018). “BLACKPINK – ‘블핑하우스 (BLACKPINK HOUSE)’ BIG EVENT COMING SOON”. YouTube (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  96. ^ “リパッケージアルバム『Re: Blackpink』3月28日(水)リリース決定!”. YGEX (bằng tiếng Nhật). 30 tháng 1 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 16 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  97. ^ “BLACKPINK helped design their official lightstick”. SBS PopAsia (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 5 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 25 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  98. ^ Herman, Tamar. “BlackPink Release ‘Square Up’ EP Fronted by Sharp-Shooting ‘Ddu-Du Ddu-Du’ Music Video”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 28 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  99. ^ a b c d Zellner, Xander (25 tháng 6 năm 2018). “Blackpink Makes K-Pop History on Hot 100, Billboard 200 & More With ‘DDU-DU DDU-DU’ ”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  100. ^ “BlackPink’s Chart History”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 29 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  101. ^ Copsey, Rob. “Years and Years’ If You’re Over Me hits Number 1 on the Official Trending Chart”. Official Charts UK (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 11 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  102. ^ Herman, Tamar (25 tháng 6 năm 2018). “Blackpink Becomes Highest-Charting K-Pop Girl Group in America With ‘Square Up’ & ‘Ddu-Du Ddu-Du’ ”. Forbes (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 31 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  103. ^ “국내 대표 음악 차트 가온차트!” (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Bản gốc lưu trữ 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  104. ^ Doanh số tích lũy của “Ddu-Du Ddu-Du” và “Forever Young”:
    • “국내 대표 음악 차트 가온차트!” (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Bản gốc lưu trữ 29 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
    • “국내 대표 음악 차트 가온차트!” (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Bản gốc lưu trữ 14 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
    • “국내 대표 음악 차트 가온차트!” (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Bản gốc lưu trữ 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
    • “국내 대표 음악 차트 가온차트!” (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.

  105. ^ Hiếu Công (ngày 19 tháng 7 năm 2017). “Trước thềm “Nhật tiến”, BLACK PINK phá vỡ kỷ lục lượt xem mới với MV “As If It’s Your Last” ”. Chuyên trang Hoa Học Trò – Báo điện tử Tiền Phong. Bản gốc lưu trữ 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  106. ^ “Black Pink’s Ddu-Du Ddu-Du music video scores 36.2 million views in first 24 hours”. Metro UK (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  107. ^ 블랙핑크, 성공적인 일본 데뷔…쇼케이스 매진. Today Korea (bằng tiếng Hàn). 25 tháng 7 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 15 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  108. ^ Huỳnh Bảo Trân (ngày 27 tháng 7 năm 2018). “Vượt mặt Big Bang và BTS, BLACK PINK là nhóm nhạc châu Á đầu tiên nhận nút kim cương từ YouTube”. Thể thao & Văn hóa. Thông tấn xã Việt Nam. Bản gốc lưu trữ 10 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2020.
  109. ^ Im Eun-byel, The Jakarta (ngày 10 tháng 9 năm 2018). “Big Bang attracts 10m YouTube subscribers”. The Jakarta Post (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 10 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2020.
  110. ^ Sher, Sher (ngày 29 tháng 11 năm 2019). “Sulit Didapat, Ini 5 Channel Idol KPop Berstatus ‘Diamond Creature’ ”. IDN Times (bằng tiếng Indonesia). Bản gốc lưu trữ 10 tháng 11 năm 2020.
  111. ^ “Blackpink、京セラドーム大阪にてツアーファイナル。ファンからのサプライズに涙”. BARKS(バークス) (bằng tiếng Nhật). 25 tháng 12 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  112. ^ “Blackpink to Hold Group’s First Ever Concert in Seoul… Fan Club BLINK Will Gather for the First Time”. YG Life (bằng tiếng Anh). 12 tháng 9 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  113. ^ Moom, Kat (26 tháng 6 năm 2020). “Blackpink on the Message of New Single ‘How You Like That’ ”. Time (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 28 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  114. ^ Brooks, Hayden (4 tháng 9 năm 2018). “Dua Lipa Announces Blackink Collab ‘Kiss And Make Up’: Get The Details” (bằng tiếng Anh). iHeartMedia. Bản gốc lưu trữ 30 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  115. ^ Benjamin, Jeff (29 tháng 10 năm 2018). “Blackpink Score Second Hot 100 Entry Thanks to ‘Kiss and Make Up’ With Dua Lipa”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  116. ^ Ainsley, Helen (26 tháng 10 năm 2018). “Blackpink are officially the first ever female K-pop group to enter the Official UK Top 40” (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Bản gốc lưu trữ 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  117. ^ Kelley, Caitlyn (23 tháng 10 năm 2018). “Blackpink Go Global By Signing With Interscope”. Forbes (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  118. ^ “Black Pink Will be in Your Area in 2019 With an Asia Tour”. MTV Asia (bằng tiếng Anh). 1 tháng 11 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  119. ^ a b “Black Pink’s Jennie Makes Her “Solo” Debut and the Internet is Already in Love with It”. MTV Asia (bằng tiếng Anh). 13 tháng 11 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 10 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  120. ^ “フルアルバム「Blackpink IN YOUR AREA」を11月23日(金)0:00より全曲先行配信決定!”. Blackpink Official Website (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  121. ^ “週間 アルバムランキング 2018年12月17日付(2018年12月03日~2018年12月09日)”. Oricon (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  122. ^ Stutz, Colin (8 tháng 2 năm 2019). “Blackpink to Make US Performance Debut at Universal Music’s Grammy Artist Showcase”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  123. ^ Herman, Tamar (ngày 6 tháng 2 năm 2019). “Blackpink to Perform on ‘The Late Show’ ”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  124. ^ Yonhap (7 tháng 2 năm 2019). “Blackpink to appear on CBS talk show hosted by comedian Stephen Colbert”. The Korean Herald (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  125. ^ Pelletiere, Nicole (12 tháng 2 năm 2019). “Female K-Pop group BLACKPINK performs live as North American tour is announced”. Good Morning America (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2021.
  126. ^ Yonhap (ngày 7 tháng 2 năm 2019). “Blackpink to appear on CBS talk show hosted by comedian Stephen Colbert”. The Korea Herald (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  127. ^ “Blackpink becomes first Korean cover girls for Billboard”. The Korea Hearld (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 3 năm 2019. Bản gốc lưu trữ 28 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  128. ^ Yonhap (ngày 25 tháng 3 năm 2019). “Blackpink to drop new album, “Kill This Love,” next month”. The Korea Hearld (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 30 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  129. ^ Zellner, Xander (15 tháng 4 năm 2019). “Blackpink’s ‘Kill This Love’ Makes K-Pop History on Hot 100 & Billboard 200 Charts”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  130. ^ “Lil Nas X’s viral hit Old Town Road set to enter the Top 5 on this week’s Official Singles Chart”. Official Charts (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 8 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  131. ^ “Blackpink Creates New Record As Highest Charting K-Pop Act On Spotify’s Global Top 50 Chart – With “Kill This Love” ” (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 28 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2020.
  132. ^ “The 100 Best Songs of 2019: Staff List”. Billboard (bằng tiếng Anh). 12 tháng 11 năm 2019. Bản gốc lưu trữ 2 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2020.
  133. ^ “South Korean single certifications – Blackpink – Forever Young” (bằng tiếng Hàn). Hiệp hội Công nghiệp Nội dung Âm nhạc Hàn Quốc (KMCA). Bản gốc lưu trữ 4 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2020.
  134. ^ Adejobi, Alicia (3 tháng 1 năm 2019). “Blackpink Become First K-pop Girl Group to Perform at Coachella as They Join Ariana Grande on 2019 Line-up”. Metro (bằng tiếng Anh). DMG Media. Bản gốc lưu trữ 10 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2020.
  135. ^ Ginsberg, Gab (13 tháng 4 năm 2019). “Blackpink Rule Coachella With Electrifying Debut Performance”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 8 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2020.
  136. ^ Willman, Chris (12 tháng 4 năm 2019). “Blackpink Win Over Coachella With First Full U.S. Concert”. Variety (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2020.
  137. ^ “Kill This Love Japanese Version”. Apple Music (bằng tiếng Anh). Apple Inc. Bản gốc lưu trữ 6 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2020.
  138. ^ “블랙핑크, 오늘(18일) 데뷔 후 처음 日 ‘엠스테’ 출연” (bằng tiếng Hàn). Starnews. 18 tháng 10 năm 2019. Bản gốc lưu trữ 28 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2020.
  139. ^ Daw, Stephen (22 tháng 4 năm 2020). “Lady Gaga Confirms ‘Chromatica’ Track List, With Some Star-Studded Guests”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2020.
  140. ^ “Blackpink hit ARIA Top 10 with Lady Gaga’s “Sour Candy” ”. SBS PopAsia. 8 tháng 6 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2020.
  141. ^ “Lady Gaga’s Chromatica is the fastest-selling album of 2020”. BBC. 5 tháng 6 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2020.
  142. ^ Moon, Wan-sik (4 tháng 5 năm 2020). [단독] 블랙핑크, 6월 컴백..YG “정확한 날짜 팬들에게”(종합). Star News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2020.
  143. ^ 블랙핑크 측 “첫 정규앨범 작업 끝…오는 9월 발표 예정” [공식]. Sports DongA. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2020.
  144. ^ [공식입장] YG “블랙핑크, 로제·리사·지수 솔로곡 낸다…9월 정규앨범 이후 순차 발표”. Mydaily. 1 tháng 6 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2020.
  145. ^ a b “블랙핑크, 새 단독 리얼리티 론칭…팬들과 적극 소통한다”. Herald Pop (bằng tiếng Hàn). 13 tháng 6 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2020.
  146. ^ [공식입장] YG “블랙핑크, 로제·리사·지수 솔로곡 낸다…9월 정규앨범 이후 순차 발표”. Sports Hankooki. 10 tháng 6 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2020.
  147. ^ ‘컴백 D-10’ 블랙핑크, ‘하우 유 라이크 댓’ 타이틀 포스터 공개. SpotvNews. 16 tháng 6 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2020.
  148. ^ Hwang, Ji-young (9 tháng 7 năm 2020). 아이유, 가온차트 6월 2관왕…2개월 연속 기록. Daily Sports (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2020 – qua Naver.
  149. ^ “Blackpink’s return sets new YouTube records with How You Like That”. Guinness World Records. 30 tháng 6 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2020.
  150. ^ “YouTube Music’s top songs and trends of summer 2020”. Youtube Official Blog. 2 tháng 9 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2020.
  151. ^ Hicap, Johnathan (31 tháng 8 năm 2020). “BTS bags all 4 awards, BLACKPINK wins first trophy at 2020 MTV Video Music Awards”. Manila Bulletin. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2020.
  152. ^ “BLACKPINK to Release Second New Single on August… Shocking Collaboration Coming Up”. YG LIFE. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
  153. ^ Hong, Seung-han (4 tháng 8 năm 2020). 블랙핑크, 두번째 신고 8월 28일 발표[공식]. Sports Seoul (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2020.
  154. ^ Trust, Gary (8 tháng 9 năm 2020). “Blackpink Hits New Hot 100 High With Debut of Selena Gomez Collab ‘Ice Cream’ ”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2020.
  155. ^ Iasimone, Ashley (27 tháng 9 năm 2020). “Blackpink Announces New Single From ‘The Album’ ”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2020.
  156. ^ Spangler, Todd (30 tháng 9 năm 2020). “Blackpink to Kick Off YouTube’s New ‘Released’ Weekly Music Show”. Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2020.
  157. ^ Caulfield, Keith (11 tháng 10 năm 2020). “21 Savage & Metro Boomin’s ‘Savage Mode II’ Debuts at No. 1 on Billboard 200 Chart”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2020.
  158. ^ “UK Top 100 Albums Chart”. Official Charts UK. 9 tháng 10 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2020.
  159. ^ Oh, Bo-ram (7 tháng 10 năm 2020). 블랙핑크, 걸그룹 초동 기록 하루만에 깼다…59만장 판매고 [Blackpink, broke first-week sales record in just one day… 590,000 copies sold] (bằng tiếng Hàn). Yonhap News. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2020 – qua Naver.
  160. ^ Yoon, So-yeon (26 tháng 10 năm 2020). “Blackpink becomes first-ever million-selling K-pop girl group”. Korea Joongang Daily. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2020.
  161. ^ Zornosa, Laura (21 tháng 10 năm 2020). “K-pop group Blackpink tells Jimmy Kimmel: ‘We’re very girly, but … very savage too’ ”. Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2020.
  162. ^ a b Benjamin, Jeff (8 tháng 9 năm 2020). “Blackpink’s Netflix Documentary Marks Streaming Service Diving into K-Pop Originals”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2020.
  163. ^ Shaw, Lucas (10 tháng 11 năm 2020). “November 2020: Blackpink Is the Biggest Pop Band In the World, A First For South Korea”. Bloomberg. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2020.
  164. ^ Herman, Tamar (17 tháng 11 năm 2020). “Why K-pop’s Blackpink is the biggest band in the world and how BTS could be next, according to Bloomberg”. South China Morning Post. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2020.
  165. ^ Kaufman, Gil (17 tháng 12 năm 2020). “Here’s Why Blackpink Is Postponing Their Virtual Concert”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2020.
  166. ^ Aniftos, Rania (2 tháng 12 năm 2020). “Blackpink Announces ‘The Show’ Global Livestream Concert Experience”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2020.
  167. ^ Dong, Sun-hwa (1 tháng 2 năm 2021). “BLACKPINK’s ‘THE SHOW’ draws 280,000 viewers”. The Korea Times. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2021.
  168. ^ BLACKPINK、アルバム『THE ALBUM-JP Ver.-』8月リリース オンラインライブ映像の完全収録も. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). 2 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2021.
  169. ^ White, Caitlin (15 tháng 6 năm 2021). “Blackpink Teased New Project ‘4 +1’ To Celebrate Their 5th Anniversary”. Uproxx.
  170. ^ Lee, Sophie (ngày 14 tháng 10 năm 2020). “The 5 Most Fashionable K-Pop Groups – Blackpink BTS Red Velvet NCT Ateez Style Music”. L’Officiel USA. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2020.
  171. ^ a b c Halls, Elanor (10 tháng 6 năm 2019). “The Blackpink revolution: how the K-Pop girl group became a global obsession”. The Telegraph (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  172. ^ Hạ Vy (ngày 10 tháng 8 năm 2018). “Hành trình thời trang của BLACKPINK qua các MV triệu view”. Elle Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  173. ^ Haasch, Palmer (ngày 8 tháng 10 năm 2020). “Every BLACKPINK song, ranked”. Insider (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  174. ^ “Lý do thành viên Blackpink, TWICE, Red Velvet lại ghét bài hát nhóm mình?”. Lao Động. ngày 10 tháng 8 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  175. ^ Yoon Min-sik (ngày 22 tháng 7 năm 2017). “Black Pink wants to embody both pink and black”. The Korea Herald (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  176. ^ Jung, Heejung (ngày 28 tháng 8 năm 2020). “New Blackpink-Selena Gomez ‘Ice Cream’ song and music video released”. Reuters (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  177. ^ Geddo, Benedetta (ngày 10 tháng 6 năm 2020). “BLACKPINK Is Coming Back So Soon”. Teen Vogue (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  178. ^ Sisu (ngày 18 tháng 10 năm 2020). “Tiếng huýt sao trong “Whistle” (BLACKPINK) có một bí mật đến giờ mới được “bật mí” ”. Chuyên trang Hoa Học Trò. Báo điện tử Tiền Phong. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  179. ^ a b Ahlgrim, Callie; Haasch, Palmer; Choi, Inyoung (ngày 2 tháng 10 năm 2020). “BLACKPINK’s ‘The Album’ is a glossy 8-track party playlist you’ll want to play in every area”. Insider (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2020.
  180. ^ Hải Âu (ngày 11 tháng 7 năm 2020). “Đạt 900 triệu views, Bombayah của BlackPink trở thành MV debut Kpop đầu tiên chinh phục kỉ lục này”. Yeah1 Music. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2020.
  181. ^ Herman, Tamar (ngày 1 tháng 11 năm 2016). “BlackPink Releases Two New Songs on Halloween”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2020.
  182. ^ Yim Hyun-su (ngày 26 tháng 11 năm 2019). “Blackpink’s eight most defining tracks”. The Korea Herald (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 16 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  183. ^ Cragg, Michael (ngày 2 tháng 10 năm 2020). “BLACKPINK’s The Album is their cautiously-crafted crossover record”. The Face (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2020.
  184. ^ Chakraborty, Riddhi (ngày 2 tháng 10 năm 2020). “Watch BLACKPINK’s Angsty Video for ‘Lovesick Girls’ -”. Rolling Stone India (bằng tiếng Anh). MW Com. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  185. ^ Hicap, Jonathan (ngày 6 tháng 10 năm 2020). “YouTube releases BLACKPINK’s ‘Lovesick Girls’ MV Premiere numbers”. Manila Bulletin (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  186. ^ Đoàn Trúc (ngày 7 tháng 10 năm 2020). “BLACKPINK đã mang đến điều gì cho người hâm mộ trong THE ALBUM?”. Elle Việt Nam. Bản gốc lưu trữ 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  187. ^ Herman, Tamar (ngày 22 tháng 10 năm 2018). “BLACKPINK Sign With Interscope Records & UMG in Global Partnership With YG Entertainment: Exclusive”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 2 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  188. ^ Halliwell, Kate (ngày 2 tháng 10 năm 2020). “Yes, We Like That: Breaking Down Blackpink’s Latest Release, ‘The Album’ ”. The Ringer (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  189. ^ Chiaratti, Emma (ngày 6 tháng 11 năm 2020). “BLACKPINK’s ‘The Album’ Review: Finally In Your Area”. Medium (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  190. ^ Moon, Kat (ngày 5 tháng 10 năm 2020). “4 Biggest Takeaways From BLACKPINK’s ‘The Album’ ”. Time (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  191. ^ Rantala, Hanna (12 tháng 10 năm 2020). Kasolowsky, Raissa (biên tập). “From teens to superstars – Netflix film tracks BLACKPINK’s rise”. Reuters (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2020.
  192. ^ Hà Trang (ngày 4 tháng 7 năm 2020). “Công thức tạo hit của Black Pink”. Zing News. Bản gốc lưu trữ 8 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  193. ^ Mendez, Michele (ngày 6 tháng 8 năm 2020). “20 BLACKPINK Words Every BLINK Needs To Know”. Elite Daily (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  194. ^ Moon, Kat (ngày 3 tháng 4 năm 2019). “Everything to Know About K-Pop Group BLACKPINK”. Time (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 8 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  195. ^ Hiểu Nhân (ngày 14 tháng 7 năm 2020). “Lý do Blackpink thành công”. VnExpress (bằng tiếng Việt). Bản gốc lưu trữ 8 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  196. ^ Yang (ngày 15 tháng 10 năm 2020). “Đình đám là thế nhưng ít ai biết rằng “Whistle” của Black Pink từng suýt không được chọn làm ca khúc ra mắt”. Billboard Việt Nam. Bản gốc lưu trữ 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  197. ^ Yost, Brian (ngày 14 tháng 10 năm 2020). “Small details you missed in BLACKPINK: Light Up the Sky”. Nicki Swift (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  198. ^ Carpio, Jillian (16 tháng 6 năm 2020). “How Blackpink’s Jennie, Rosé, Lisa and Jisoo were chosen for Chanel, Saint Laurent, Celine and Dior”. South China Morning Post (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  199. ^ a b Sherman, Maria (17 tháng 9 năm 2020). “Blackpink in Your Area (and Everywhere)”. Elle (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  200. ^ Toh, Jaimelynne (ngày 3 tháng 9 năm 2020). “Want to dress like Blackpink? Each girl’s personal style analysed”. South China Morning Post (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  201. ^ Kwak, Yeon-soo (ngày 9 tháng 7 năm 2020). “Hanbok sweeps global K-pop fans off their feet”. The Korea Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  202. ^ Choi, Bo-yun (3 tháng 8 năm 2020). “Hanbok Designer Grabs Spotlight with Black Pink Video”. The Chosun Ilbo (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  203. ^ Xidias, Angelica (ngày 23 tháng 9 năm 2020). “Everything to know about Jisoo, Jennie, Rosé and Lisa of Blackpink, fashion’s favourite K-pop band”. Vogue Australia (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  204. ^ “Dior grows rapidly to threaten Chanel, Hermes here”. The Korea Times (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 8 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  205. ^ Pike, Naomi (27 tháng 8 năm 2020). “Jisoo Is Bringing The High-Fashion Edge To Blackpink’s Selena Gomez Collaboration”. Vogue (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  206. ^ Biên tập ELLE Team (ngày 6 tháng 3 năm 2019). “Jennie Kim chính thức trở thành Đại sứ thương hiệu của Chanel tại Hàn Quốc”. Elle Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  207. ^ “Jennie Kim Cruise 2019/20”. Chanel (bằng tiếng Anh). 14 tháng 11 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  208. ^ Thùy Dung (ngày 26 tháng 6 năm 2020). “Jennie Kim – “Viên ngọc quý” của thế giới thời trang cao cấp”. Elle Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  209. ^ Carpio, Jillian (ngày 12 tháng 11 năm 2020). “What does Jennie spend her millions on now that Blackpink has gone global?”. South China Morning Post (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  210. ^ Queenanie N (ngày 31 tháng 7 năm 2020). “Vừa bổ nhiệm Rosé Blackpink làm đại sứ, Saint Laurent đã hưởng lợi”. Harper’s Bazaar Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  211. ^ Pike, Naomi (3 tháng 7 năm 2020). “Blackpink’s Rosé Is A Saint Laurent Ambassador for a New Era”. Vogue (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  212. ^ Associated Press (ngày 25 tháng 6 năm 2019). “K-pop star Lisa at Celine show as Solange bids adieu to Kenzo duo”. South China Morning Post (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  213. ^ Cheung, Karma (ngày 28 tháng 9 năm 2020). “獨家專訪 BLACKPINK Lisa :細談 Hedi Slimane 陰柔搖滾美學、穿搭秘訣、巴黎必去點”. Vogue Hong Kong (bằng tiếng Trung). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  214. ^ Gonzales, Erica (ngày 22 tháng 9 năm 2020). “Blackpink’s Lisa Is Now a Global Ambassador for Celine”. Harper’s Bazaar (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  215. ^ Trường An (ngày 27 tháng 6 năm 2020). “Hành trình trở thành biểu tượng thời trang mới của Lisa (BLACKPINK) | ELLE”. Elle Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  216. ^ Sung, Jung-eun (ngày 24 tháng 7 năm 2020). “블랙핑크 리사, 불가리 브랜드 앰버서더 발탁” [Blackpink Lisa, BVLGARI’s Brand Ambassador Selected]. Maeil Business Newspaper (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  217. ^ Liao, Marina (ngày 14 tháng 10 năm 2020). “The Intimate Backstory of How Each BLACKPINK Member Became a Star”. Marie Claire (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  218. ^ Martinez, Tara (ngày 4 tháng 1 năm 2019). “Here’s What To Know About BLACKPINK, The First K-Pop Girl Group To Perform At Coachella”. Elite Daily (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  219. ^ 디지털콘텐츠팀 (ngày 27 tháng 8 năm 2016). “엑소, 8월 가수 브랜드평판 1위…2위 블랙핑크, 3위 아이오아이 “소통지수 높다” ”. Báo Busan (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  220. ^ Raj, Tanu (29 tháng 9 năm 2020). “Blackpink Talk ‘The Album’: “The Spotlight Shed On K-Pop Is Just The Beginning” ”. Viện hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Thu âm Quốc gia Hoa Kỳ (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  221. ^ Sherman, Maria (13 tháng 7 năm 2020). “Start Here: Your Guide To Getting Into K-Pop”. NPR (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  222. ^ Glasby, Taylor (13 tháng 5 năm 2020). “How Blackpink Became The Biggest K-Pop Girl Band on the Planet”. Vogue (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  223. ^ “포브스코리아 선정 2019 파워 셀러브리티 40” [Forbes Korea 2019 Power Celebrity 40]. Forbes Korea (bằng tiếng Hàn). 23 tháng 4 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập 4 tháng 5 năm 2019.
  224. ^ “2020 포브스코리아 선정 파워 셀럽 40” [2020 Forbes Korea Power Celebrity 40]. Forbes Korea (bằng tiếng Hàn). 23 tháng 4 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2020. Truy cập 2 tháng 5 năm 2020.
  225. ^ a b Ramirez, Elaine (1 tháng 4 năm 2019). “BlackPink: The All-Girl K-Pop Group Following BTS’s Footsteps And Taking Over The U.S.”. Forbes (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  226. ^ Reel, Evan (7 tháng 12 năm 2018). “How K-Pop Superstars Blackpink Are Rewriting the Girl Group Narrative”. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  227. ^ Benjamin, Jeff (8 tháng 4 năm 2019). “Review: Blackpink’s K-Pop Formula Keeps Working on ‘Kill This Love’ ”. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  228. ^ Kelley, Caitlin (3 tháng 4 năm 2019). “K-Pop Is More Global Than Ever, Helping South Korea’s Music Market Grow into A ‘Power Player’ ”. Forbes (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  229. ^ Anna (ngày 14 tháng 11 năm 2019). “Black Pink lọt vào danh sách “TIME 100 Next” của tạp chí TIME, được công nhận là ngôi sao mới có sức ảnh lớn”. Billboard Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  230. ^ “Blackpink makes Time magazine’s newly launched ‘100 Next’ list”. The Korea Herald (bằng tiếng Anh). 14 tháng 11 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  231. ^ “” TIME 100 Next” vinh danh những tên tuổi đang lên của làng giải trí năm 2019”. Tạp chí Đẹp (bằng tiếng Việt). ngày 17 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  232. ^ “Time 100 Next 2019: Blackpink”. Time (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  233. ^ “Blackpink are music group with highest number of YouTube subscribers”. The Straits Times (bằng tiếng Anh). 10 tháng 9 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  234. ^ “Blackpink Official Youtube Channel” (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 26 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020 – qua YouTube.
  235. ^ Park Hyun-ik (ngày 16 tháng 12 năm 2019). “인스타그램 “올해 韓 트렌드는 ‘공감’…팔로워 상위 10위는 모두 아이돌” ” [Instagram tiết lộ các tài khoản và hashtag được theo dõi nhiều nhất Hàn Quốc]. Chosun Ilbo (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2020.
  236. ^ Tamondong, Hanna (15 tháng 3 năm 2020). “Daebak! These Are The 10 K-Pop Idols with the Most Followers On Instagram”. Cosmopolitan Philippines (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  237. ^ Jayatilaka, Tania (9 tháng 7 năm 2020). “The 7 Most Popular Female K-Pop Stars On Instagram”. Tatler Singapore (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  238. ^ “BlackPink is Most Followed Girl Group on Spotify, Surpassing Fifth Harmony and Little Mix” (bằng tiếng Anh). KoogleTV. 22 tháng 11 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  239. ^ “블랙핑크, 스포티파이서 전세계 걸그룹 팔로워수 1위..피프스 하모니 넘었다[Oh!쎈 레터]”. Osen (bằng tiếng Hàn). 21 tháng 11 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  240. ^ “Blackpink” (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 28 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020 – qua Spotify.
  241. ^ “Kia Motors Teams Up With K-Pop Phenomenon Blackpink”. Kia Motors (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 1 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  242. ^ de Luna, Elizabeth (18 tháng 6 năm 2020). “Blackpink Talks New Jazwares Doll Collection Inspired by Music Videos”. Teen Vogue (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  243. ^ Cantor, Brian (1 tháng 10 năm 2020). “Blackpink Releasing VIP/All Access Merchandise Box In Celebration Of “The Album” Release”. Headline Planet (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  244. ^ Yoon, So-yeon (15 tháng 6 năm 2020). “Naver Z releases Blackpink line of 3-D avatars”. Korea JoongAng Daily (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  245. ^ Yoo, Byung-cheol (11 tháng 9 năm 2020). “블랙핑크, 신개념 팬사인회-안무영상 ‘글로벌 인기 돌풍” [Blackpink, New Concept Fan-sign event-Choreography Video ‘Global Popularity’]. Hankook Kyungje (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  246. ^ Denzer, TJ (28 tháng 9 năm 2020). “PUBG Mobile & Blackpink team up for surprise crossover event”. Shacknews (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  247. ^ Li, Nicolaus (17 tháng 9 năm 2020). “’ PUBG’ Goes K-Pop With Upcoming Blackpink Collaboration”. Hypebeast (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  248. ^ Quỳnh Trang (ngày 24 tháng 9 năm 2020). “Những điều BLINK cần biết về màn hợp tác của Blackpink và PUBG Mobile”. Thể thao & Văn hóa. Thông tấn xã Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  249. ^ “Galaxy A: #danceAwesome with Blackpink” (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 1 năm 2020. Bản gốc lưu trữ 6 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020 – qua YouTube.
  250. ^ “Samsung to launch its Galaxy A80 Blackpink Special Edition, along with watch and earbuds, in Singapore”. South Morning China Post (bằng tiếng Anh). 29 tháng 7 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  251. ^ Yeoh, Angelin (2 tháng 8 năm 2019). “Blackpink Edition Samsung Galaxy A80, Watch Active and Buds available for pre-order”. The Star (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  252. ^ Ancheta, Jam (27 tháng 4 năm 2019). “Blackpink’s Kill this love MV features the latest Samsung products”. Jam Online (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  253. ^ Rita Dara, Adinda; Muchlis, Muchlis (ngày 5 tháng 10 năm 2019). “Analisis Semiotika dalam Iklan Shopee 12.12 Birthday Sale Edisi Blackpink”. Jurnal Ilmu Komunikasi (bằng tiếng Indonesia). 9 (2): 100–113. doi:09260063822/jik.09260063822. ISSN 09260063822. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2020.
  254. ^ “Shopee taps K-pop group Blackpink as first-ever regional brand ambassador”. Marketing Interactive (bằng tiếng Anh). 30 tháng 11 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  255. ^ “KBank partners with world-renowned K-Pop girl group Blackpink”. Kasikornbank (bằng tiếng Anh). 13 tháng 11 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  256. ^ “ปังไม่หยุด! Blackpink ได้เป็น Spokesperson ของ เป๊ปซี่ ทั้ง 4 ประเทศ ในเอเชียแปซิฟิก” [Blackpink has become Pepsi’s spokesperson in 4 Asia-Pacific countries]. The Bangkok Insight (bằng tiếng Thái). 11 tháng 9 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  257. ^ N. Khanh (ngày 30 tháng 9 năm 2020). “BLACKPINK trở thành đại diện phát ngôn mới của Pepsi”. Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  258. ^ Benjamin, Jeff (ngày 26 tháng 1 năm 2020). “Blackpink, Pharrell Williams, Anitta, Jackson Wang & More Star in Adidas’ New Campaign: Watch”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2020.
  259. ^ “파라다이스시티, 블랙핑크 남주혁 새 모델 기용” [Paradise City, Appointed Blackpink, Nam Joo-hyuk as New Models]. Sports Donga (bằng tiếng Hàn). 20 tháng 3 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  260. ^ “블랙핑크, 컬러렌즈 인연…’오렌즈’ 전속 모델 발탁” [Blackpink, Selected as Olens’s Exclusive Models]. Money Today (bằng tiếng Hàn). 9 tháng 7 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  261. ^ Abelman, Devon (5 tháng 10 năm 2018). “K-Pop Group Blackpink Is About to Drop a Rose-Gold Hair Dye”. Allure (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  262. ^ Lee, Eunji (28 tháng 7 năm 2018). “대세는 ‘블랙핑크’… 7월 가수 브랜드 평판 1위” [The Trend is ‘Blackpink’… No.1 Singer Brand Reputation]. Kyeonggi Ilbo (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ 8 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  263. ^ Lee, Eunji (23 tháng 8 năm 2020). “[공식]블랙핑크, 방탄소년단 누르고 8월 가수 브랜드 평판 1위…3위 임영웅” [Blackpink đánh bại BTS để đứng đầu Bảng xếp hạng danh tiếng Ca sĩ vào tháng 8… # 3 Lim Young-woong]. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  264. ^ Kim, Sung-won (2 tháng 5 năm 2017). “블랙핑크, 인천세관 홍보대사 위촉 “신고 문화 정착” ” [Blackpink appointed as Incheon Main Customs’ ambassadors for “improvement in reporting culture”]. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  265. ^ Park, Joo-sung (26 tháng 4 năm 2018). “스프라이트, 새 광고 모델에 블랙핑크 X 우도환 동반 발탁”. Newsis (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  266. ^ Jhoo Dong-chan (18 tháng 4 năm 2019). “Blackpink promotes Woori”. The Korea Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2020. Truy cập 5 tháng 9 năm 2020.
  267. ^ “4/19(木)~グローバル スポーツブランド「Puma」の新商品「Puma Suede Bow」(プーマ スウェード ボウ)のイメージモデルに決定!”. YGEX (bằng tiếng Nhật). 17 tháng 4 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  268. ^ Lee Sang-won. “Black Pink show off their sneaker game”. The Korea Herald (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  269. ^ “” Taeyang· Winner· Blackpink·CL”… Artists From YG Gathers For The ‘First Time’ [Pictorial]”. YG Life (bằng tiếng Anh). 19 tháng 3 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  270. ^ “【動画あり】ブラックピンク初登場! 新リップ”ルージュ ディオール リキッド”でハートを揺さぶる唇をGet” [Blackpink lần đầu xuất hiện! Sở hữu làn môi quyến rũ trái tim với son môi “Rouge Dior Liquid” mới]. Elle Girl Japan (bằng tiếng Nhật). 9 tháng 8 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  271. ^ 블랙핑크, 데뷔하자마자 핫 ‘광고계 관심’. The Chosun Ilbo (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  272. ^ 강채원 (7 tháng 9 năm 2016). “세인트스코트, 새 얼굴에 YG신예 ‘블랙핑크’ ” [St. Scott, ‘Blackpink’ nhà YG trên diện mạo mới]. Fashion Seoul (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  273. ^ “2018 New Year’s 109 Blackpink and iKON”. 109 News (bằng tiếng Nhật). Shibuya 109. 22 tháng 12 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  274. ^ 109ニュース シブヤ編集部 (31 tháng 3 năm 2018). “Serious announcement from the Korean Girls Group Blackpink and Cecil McBee that the world draws attention!”. 109 News (bằng tiếng Nhật). Shibuya 109. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  275. ^ Quỳnh Trang (11 tháng 3 năm 2021). “Blackpink. Jisoo. Blackpink ngỡ ngàng trước thói quen dũng cảm mới của Jisoo”. Thể thao & Văn hóa. Thông tấn xã Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2021.
  276. ^ “Reinvent your world with Globe and BLACKPINK”. Globe Telecom (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2021.
  277. ^ “’ 외모도, 마음도 천사’…블랙핑크, 엘르 스타일어워즈 상금 기부”. Photo Herald (bằng tiếng Hàn). The Korea Herald. 20 tháng 12 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 11 năm 2020. Truy cập 17 tháng 11 năm 2020.
  278. ^ [단독] 위너 김진우, 강원도 산불 피해에 1000만원 기부. Kuki News (bằng tiếng Hàn). 8 tháng 4 năm 2019. Bản gốc lưu trữ 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập 8 tháng 4 năm 2019.
  279. ^ Koh, Lydia (ngày 22 tháng 9 năm 2019). “Lisa of BLACKPINK donates to help flood victims in Thailand”. The Independent Singapore (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  280. ^ Pauly, Alexandra (28 tháng 4 năm 2020). “Blackpink, Billie Eilish and More Drop Branded Face Masks for Charity”. HYPEBAE. Bản gốc lưu trữ 22 tháng 10 năm 2020. Truy cập 5 tháng 9 năm 2020.
  281. ^ Alarilla, Joey (ngày 9 tháng 12 năm 2020). “BLACKPINK promotes COP26, tackles climate change”. Digital Life Asia (bằng tiếng Anh). Manila. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  282. ^ Blackrose [@blackrose970211] (ngày 17 tháng 7 năm 2017). “170717 GMP HQ” (Tweet) – qua Twitter.
  283. ^ “[블랙핑크 VS 투애니원③] 블랙핑크는 누구?” (bằng tiếng Hàn). dongA.com. ngày 12 tháng 8 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2018.
  284. ^ “What nationality is Rosé from BLACKPINK? Australian”. Capital (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  285. ^ Boyle, Gary (ngày 8 tháng 5 năm 2020). “Thai singer Lisa Blackpink’s life threatened”. Bangkok Post (bằng tiếng Anh). Bangkok Post Public Company Limited. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.
  286. ^ Yang (ngày 21 tháng 10 năm 2020). “Jennie (Black Pink) tiết lộ lý do nhóm không tham gia nhiều show tạp kĩ mỗi lần comeback”. Billboard Việt Nam (bằng tiếng Việt). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  287. ^ Lee Mi-huyn (ngày 14 tháng 11 năm 2016). “BlackPink’s long journey to the top: After six years as trainees, YG’s newest girl group now dominates the charts”. Korea JoongAng Daily (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  288. ^ “Rose’s first solo album ‘R’ sells over half a million copies”. Yonhap News (bằng tiếng Anh). 22 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2021.
  289. ^ Tom Llewellyn (19 tháng 8 năm 2021). “SNOWDROP: EVERYTHING YOU NEED TO KNOW ABOUT JISOO’S K-DRAMA DEBUT!”. HITC. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2021.
  290. ^ [공식] 블랙핑크 첫 리얼리티 ‘블핑하우스’, 1월6일 첫방…12회 방송 (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2018.
  291. ^ “’ YG전자’ 승리가 이끈 YG 셀프디스, B급유머 폭발..박봄·남태현 등장(종합)[Oh!쎈 리뷰]”. osen.co.kr (bằng tiếng Hàn). 5 tháng 10 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2018.
  292. ^ “Phim của BlackPink thu hút hơn 500.000 khán giả sau 5 ngày”. Báo Thanh Niên (bằng tiếng Việt). 11 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2021.
  293. ^ Herman, Tamar (23 tháng 1 năm 2019). “Blackpink’s ‘Ddu-Du Ddu-Du’ Becomes Most-Viewed Music Video From a K-Pop Group on YouTube”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2020. Truy cập 13 tháng 11 năm 2019.
  294. ^ Rolli, Bryan (11 tháng 11 năm 2019). “Blackpink’s ‘Ddu-Du Ddu-Du’ Becomes First K-Pop Group Video To Earn 1 Billion YouTube Views”. Forbes (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 4 năm 2020. Truy cập 13 tháng 11 năm 2020.
  295. ^ “Blackpink break multiple world records with ‘How You Like That’ video”. NME (bằng tiếng Anh). 1 tháng 7 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  296. ^ “Blackpink’s ‘Kill This Love’ surpasses 1 billion views on YouTube”. Korea JoongAng Daily (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2020.
  297. ^ “Blackpink’s ‘Boombayah’ reaches 1 billion views on YouTube, group’s third MV to achieve feat”. Manila Bulletin (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 10 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2020.
  298. ^ Lê Anh (ngày 13 tháng 10 năm 2020). “MV “Boombayah” của BLACKPINK chính thức cán mốc 1 tỷ lượt xem”. Báo điện tử VOV. Đài Tiếng nói Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
  299. ^ “Musikvideo von BLACKPINK knackt 1-Milliarde-Marke auf YouTube”. KBS World (bằng tiếng Đức). ngày 13 tháng 10 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.

Thư mục

  • Ban biên tập (2017). 超夯K-POP女團召集最具人氣全新盤點: 韓國女團新勢力. 2017 (bằng tiếng Trung). 匯展文化出版. ISBN 09260063822. OCLC 09260063822.
  • Besley, Adrian (ngày 5 tháng 12 năm 2019). Blackpink: K-Pop’s No.1 Girl Group (bằng tiếng Anh). Michael O’Mara Books. ISBN 09260063822. OCLC 09260063822.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Brown, Helen; Evans, Frances (ngày 19 tháng 3 năm 2020). BLACKPINK: Queens of K-Pop: The Unauthorized Fan Guide (bằng tiếng Anh). Michael O’Mara Books. ISBN 09260063822. OCLC 09260063822.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Kim Sung Min (ngày 3 tháng 5 năm 2019). 케이팝의 작은 역사: 신감각의 미디어 (bằng tiếng Hàn). Seoul: 글항아리. ISBN 09260063822.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Stevens, Cara J. (ngày 29 tháng 10 năm 2019). Dunn, Dinah (biên tập). BLACKPINK: Pretty Isn’t Everything (The Ultimate Unofficial Guide) (bằng tiếng Anh). HarperCollins. ISBN 09260063822. LCCN 09260063822. OCLC 09260063822.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)

Liên kết ngoài

Giải thưởng của Blackpink

  • x
  • t
  • s

Nghệ sĩ mới của năm tại Golden Disc Awards

Thập niên 1980
  • Kim Seung-jin, Kim Wan-sun (1986)
  • Lee Jung-suk, Moon Hee-ok (1987)
  • Byun Jin-sub, Lee Tzsche (1988)
  • Jo Gap-Gyeong, Park Hak-gi (1989)
Thập niên 1990
  • Kim Min-woo, Park Sung-shin (1990)
  • Shim Sin, Yoon Sang (1991)
  • Two Two (1994)
  • Sung Jin-woo (1995)
  • H.O.T., Idol (1996)
  • Yangpa, Jinusean (1997)
  • S.E.S, Fin.K.L, Taesaja (1998)
  • Lee Jung-hyun, 1TYM (1999)
Thập niên 2000
  • Chakra, Park Hyo-shin, Sky (2000)
  • Sung Si-kyung, Jang Na-ra (2001)
  • Rain, Wheesung (2002)
  • Seven, Big Mama (2003)
  • SG Wannabe, Tei (2004)
  • Eru, Ivy, Lim Jeong-hee (2005)
  • Super Junior, SeeYa, Gavy NJ (2006)
  • F.T. Island, Wonder Girls, Girls’ Generation, Younha (2007)
  • SHINee, Davichi (2008)
  • 4Minute, T-ara (2009)
Thập niên 2010
  • Beast, Miss A, Secret (2010)
  • Apink, B1A4, Dal Shabet, Boyfriend, Huh Gak (2012)
  • EXO, Juniel, B.A.P, Ailee, Lee Hi (2013)
  • BTS, Roy Kim, Lim Kim, Crayon Pop (2014)
  • Got7, Winner, Red Velvet (2015)
  • GFriend, IKON, Seventeen, Twice (2016)
  • Blackpink, Bolbbalgan4, NCT 127, I.O.I (2017)
  • Wanna One (2018)
  • (G)I-dle, Iz*One, Stray Kids (2019)
  • Itzy, TXT (2020)
  • x
  • t
  • s

Danh sách người nổi tiếng quyền lực nhất Hàn Quốc theo Forbes

2009

  1. Yuna Kim
  2. Big Bang
  3. Wonder Girls
  4. Lee Hyori
  5. Girls’ Generation
  6. Park Ji-sung
  7. Lee Seung-yuop
  8. Rain
  9. Yoo Jae-suk
  10. Kim Tae-hee

2010

  1. Yuna Kim
  2. Girls’ Generation
  3. Park Ji-sung
  4. Lee Byung-hun
  5. Big Bang
  6. Go Hyun-jung
  7. Lee Seung-gi
  8. Lee Hyori
  9. Yoo Jae-suk
  10. Kang Ho-dong

2011

  1. Girls’ Generation
  2. Park Ji-sung
  3. Yuna Kim
  4. Lee Seung-gi
  5. 2PM
  6. Yoo Jae-suk
  7. Lee Chung-yong
  8. 2AM
  9. Shin-Soo Choo
  10. Kang Ho-dong

2012

  1. Girls’ Generation
  2. Big Bang
  3. IU
  4. Kara
  5. Yuna Kim
  6. Lee Seung-gi
  7. Park Ji-sung
  8. Kim Tae-hee
  9. Beast
  10. Park Tae-hwan

2013

  1. Psy
  2. Girls’ Generation
  3. Son Yeon-jae
  4. Kim Soo-hyun
  5. Big Bang
  6. Park Tae-hwan
  7. Song Joong-ki
  8. IU
  9. Yuna Kim
  10. Super Junior

2014

  1. Girls’ Generation
  2. Big Bang
  3. Suzy
  4. Hyun-jin Ryu
  5. Exo
  6. Shin-Soo Choo
  7. TVXQ
  8. Shinee
  9. Yuna Kim
  10. IU

2015

  1. Exo
  2. Kim Soo-hyun
  3. Yuna Kim
  4. Jun Ji-hyun
  5. Son Yeon-jae
  6. Lee Seung-gi
  7. Hyun-jin Ryu
  8. Son Heung-min
  9. Girls’ Generation
  10. Sistar

2016

  1. Exo
  2. Yoo Ah-in
  3. Hye-ri
  4. Girls’ Generation
  5. Kim Soo-hyun
  6. Big Bang
  7. Inbee Park
  8. Jun Ji-hyun
  9. IU
  10. Jung-ho Kang

2017

  1. Park Bo-gum
  2. Song Joong-ki
  3. Twice
  4. Exo
  5. BTS
  6. Suzy
  7. Song Hye-kyo
  8. Kim Yoo-jung
  9. Jo Jung-suk
  10. Seung-hwan Oh

2018

  1. BTS
  2. Wanna One
  3. Twice
  4. Exo
  5. IU
  6. Song Hye-kyo
  7. Song Joong-ki
  8. Park Bo-gum
  9. Yuna Kim
  10. Hyun-jin Ryu

2019

  1. Blackpink
  2. BTS
  3. Wanna One
  4. Kang Daniel
  5. Red Velvet
  6. Park Na-rae
  7. Hong Jin-young
  8. Han Ji-min
  9. Son Heung-min
  10. Exo

2020

  1. BTS
  2. Hyun-jin Ryu
  3. Blackpink
  4. Son Heung-min
  5. Bong Joon-ho
  6. Jun Hyun-moo
  7. Park Na-rae
  8. Lee Soo-geun
  9. Twice
  10. Kim Hee-chul

2021

  1. BTS
  2. Blackpink
  3. Hyun-jin Ryu
  4. Son Heung-min
  5. Lim Young-woong
  6. Kwang-hyun Kim
  7. Yoo Jae-suk
  8. Young Tak
  9. Jang Dong-won
  10. Jang Yoon-jeong

Bảng chỉ bao gồm 10 người dẫn đầu.

Nguồn: https://sarajevopanorama.info
Danh mục: Tổng Hợp

sarajevopanorama