Chris Evans (diễn viên) – Wikipedia tiếng Việt

Chris Evans (diễn viên) – Wikipedia tiếng Việt

Christopher Robert “Chris” Evans (sinh ngày 13 tháng 6 năm 1981) là một nam diễn viên người Mỹ. Anh được biết đến nhiều nhất qua vai Johnny Storm / Human Torch trong hai bộ phim Fantastic Four (2005) và Fantastic Four: Rise of the Silver Surfer (2007), sau đó là vai Steve Rogers / Captain America trong các phim Captain America: Kẻ báo thù đầu tiên (2011), The Avengers (2012), Captain America 2: Chiến binh mùa đông (2014), Avengers: Đế chế Ultron (2015), Captain America: Nội chiến siêu anh hùng (2016), Avengers: Cuộc chiến vô cực (2018) và Avengers: Hồi kết (2019).

Evans khởi nghiệp từ series phim truyền hình Opposite Sex (2000) và sau đó chuyển sang đóng trong các bộ phim điện ảnh chiếu rạp như Not Another Teen Movie (2001), Fierce People (2005), Sunshine (2007), Push (2009), The Losers (2010), Scott Pilgrim vs. the World (2010), và What’s Your Number? (2011).

Bạn đang xem: Chris Evans (diễn viên) – Wikipedia tiếng Việt

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Evans chào đời ngày 13 tháng 6 năm 1981,[1] ở Boston, Massachusetts,[2] và trưởng thành ở thị trấn gần đó có tên Sudbury.[3] Mẹ của anh, bà Lisa (họ thời con gái là Capuano), là giám đốc sáng tạo ở rạp hát Concord Youth Theater,[4][5] và cha của anh, ông Bob, là nha sĩ.[6] Nam diễn viên người Mỹ mang dòng máu của tổ tiên có nguồn gốc từ Ý và Ireland.[7][8] Cha mẹ anh ly hôn vào năm 1999.[9]

Anh cao 1m84. Khi học trung học, Evans đã nuôi mơ ước được theo đuổi nghiệp diễn xuất nên đã đến New York gõ cửa các văn phòng tuyển chọn diễn viên và tham gia một khoá học diễn xuất. Sau khi tốt nghiệp trung học, Evans ký được hợp đồng với một công ty đại diện và bắt đầu cuộc phiêu lưu của mình tại Hollywood.

Xem thêm: Đen Vâu – Wikipedia tiếng Việt

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Evans chỉ thật sự bùng nổ trong các phim hành đông

Vai diễn đầu tiên của Chris Evans là một vai phụ trong series truyền hình Opposite Sex. Anh tiếp tục chứng tỏ khả năng đầy hứa hẹn của mình bằng vai phụ trong phim điện ảnh The Newcomers của đạo diễn James Allen Bradley. Tuy nhiên, có lẽ sự nghiệp của Chris Evans phải tiếp tục lận đận với các vai phụ thêm một thời gian dài nữa nếu như không “đắc cử” vào vai Jake Wyler trong bộ phim hài học trò Not Another Teen Movie của đạo diễn Joel Gallen. Cái tên Chris Evans bắt đầu được đồng loạt xuất hiện trên các trang báo teen và trong những câu chuyện tán gẫu của những cô bé học trò ưa mơ mộng. Anh chàng còn được rất nhiều người hâm mộ vì có gương mặt điển trai và thân hình chuẩn.Chris Evans”hạ gục”hàng triệu trái tim phái nữ”. Sở hữu thân hình hoàn hảo, Chris Evans thường xuyên có các cảnh khoe cơ bắp trên phim nhưng diễn viên điển trai luôn ngượng ngùng khi nghe những lời khen ngợi từ người khác: “Tôi không thấy mình quyến rũ hay gì đó, nhưng tôi là đàn ông đích thực”.Nam diễn viên này chỉ có một ước mong đơn thuần và bình dị là sớm ổn định gia đình, cưới vợ và sinh con. Mẹ Chris chia sẻ rằng anh là một fan bự của các bộ phim Disney. “Thằng bé vẫn nhớ nằm lòng tất cả các bài hát trong phim Nàng tiên cá” – mẹ anh cười tủm tỉm khi trả lời phỏng vấn báo giới. Nam tài tử: “Nếu những thước phim này được lưu giữ lại, không thể để sau này con tôi nhìn thấy cha nó một thời chỉ có 140 pound (khoảng 60 kg). Nhất định phải có tý cơ bắp! Tôi lập tức lao vào tập luyện”.Chris tiết lộ, để có thân hình “chuẩn không cần chỉnh” trong Captain America, anh không ngừng tập luyện 3 tháng trời, liên tục ăn gà quay và đồ uống giàu protein. Thêm vào đó, Chris không được chạy bộ, đạp xe đạp hay chèo thuyền vì chỉ cần tham gia các hoạt động nhẹ là các bắp cơ sẽ dần biến mất.

Tuy nhiên, sau Not Another Teen Movie, cái tên Chris Evans lại tiếp tục chìm chìm, nổi nổi. Nhiều khán giả thắc mắc anh chàng đã biến đi đâu mất rồi đột nhiên Evans xuất hiện trở lại trong bộ phim hài hợp tác giữa Mỹ và Đức mang tên The Perfect Score của đạo diễn Brian Robbins với câu chuyện về sáu học sinh trung học cùng hợp tác đánh cắp đáp án cho bài kiểm tra toàn quốc vì không muốn số phận tương lai của mình lại phải lệ thuộc vào một bài kiểm tra này. Sau đó là vai chàng thanh niên đột nhiên nhận được cú điện thoại cầu cứu của một phụ nữ đang bị bắt cóc trong phim Cellular bên cạnh đàn chị Kim Basinger. Tuy nhiên, trong phim này, “bạn diễn” xuất hiện bên cạnh Evans nhiều nhất lại là chiếc điện thoại di động, đến nỗi sau khi phim kết thúc, anh đã phát biểu rằng: “Tôi không muốn nhìn thấy bất kỳ một chiếc di động nào nữa cả”.

Trong năm 2005, cái tên Chris Evans mới thật sự trở thành một điểm nóng khi lần lượt các phim The Orphan King (đạo diễn Andrew Wilder), Fierce People (đạo diễn Griffin Dunne) và đặc biệt là Fantastic Four (đạo diễm Tim Story) trong vai chàng Johnny đào hoa, háo thắng nhưng cũng đầy nghĩa khí.

Sau Fantastic Four, Chris Evans đang có mặt trên phim trường bộ phim Sunshine của đạo diễn Danny Boyle chung với các diễn viên Rose Byrne, Dương Tử Quỳnh, Hiroyuki Sanada, Cillian Murphy. Trong phim này, Evans tiếp tục bay vào không gian cùng với một nhóm nhà khoa học để phục hồi những vùng bị mất năng lượng trên mặt trời.

Xem thêm: TrucTiepNBA.com – Website Xem Trực Tiếp NBA tốt nhất

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chris Evans ở buổi hội thảo 2010 San Diego Comic-Con International

NămTên phimVai diễnGhi chú
2000Newcomers, TheThe NewcomersJuddFilm debut
2001Not Another Teen MovieJake Wyler
2003Paper Boy, TheThe Paper BoyBen ThomasShort film
2004Perfect Score, TheThe Perfect ScoreKyle
CellularRyan
2005Fierce PeopleBryce Langley
Fantastic FourJonathan “Johnny” Storm / Human TorchNominated — MTV Movie Award for Best On-Screen Team
LondonSyd
2007TMNTCasey JonesVoice
SunshineMace
Fantastic Four: Rise of the Silver SurferJonathan “Johnny” Storm / Human Torch
  • Nominated — Teen Choice Award for Choice Movie Actor: Action Adventure
  • Nominated — Teen Choice Award for Choice Movie: Rumble
Nanny Diaries, TheThe Nanny DiariesHayden aka “Harvard Hottie”
Battle for TerraStewart StantonVoice
2008Street KingsThám tử Paul Diskant
Loss of a Teardrop Diamond, TheThe Loss of a Teardrop DiamondJimmy Dobyne
2009PushNick Gant
2010Losers, TheThe LosersJake Jensen
Scott Pilgrim đấu với thế giớiLucas LeeNominated — Detroid Film Critics Society Award for Best Ensemble

Nominated — Scream Award for Best Vilain (shared with Satya Bhabha, Brandon Routh, Mae Whitman, Shota Saito, Keita Saito and Jason Schwartzman)
2011PunctureMike Weiss
Captain America: The First AvengerSteven “Steve” Rogers / Đội trưởng MỹNominated — Teen Choice Award for Choice Summer: Movie Actor

Scream Award for Best Superhero
What’s Your Number?Colin Shea
2012The AvengersSteven “Steve” Rogers / Đội trưởng Mỹ2013Snowpiercer
2014Đội trưởng Mỹ: Chiến binh mùa đông
2015The Avengers: Age of UltronWon— People’s Choice Awards: Movie Actor
2016Captain America: Civil War
2017GiftedFrank Adler
2018Avengers: Cuộc chiến vô cựcSteven “Steve” Rogers / Đội trưởng Mỹ
2019Avengers: Endgame
Knives OutRansom Drysdale

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Today in History”. The Guardian. London, UK. Associated Press. ngày 13 tháng 6 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2008. Actor Chris Evans is 28.
  2. ^ Itzkoff, Dave (ngày 8 tháng 7 năm 2011). “Chris Evans in ‘Captain America: The First Avenger’ ”. The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2017.
  3. ^ Pai, Tanya. “America’s Most Wanted”. Boston. tháng 6 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2013.
  4. ^ Marotta, Terry (ngày 19 tháng 7 năm 2007). “Grease is the word”. Gatehouse News Service via Wicked Local Sudbury. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2010.
  5. ^ Cantrell, Cindy (ngày 9 tháng 3 năm 2014). “Chris Evans doesn’t forget his Concord roots”. The Boston Globe. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2014. …Concord Youth Theatre, where his mother, Lisa Capuano Evans, has been artistic director since 1998.
  6. ^ Keck, William (ngày 9 tháng 9 năm 2004). “Chris Evans’ career ready to sizzle”. USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2007.  … Evans’ siblings, Scott, Carly and Shanna. …[parents] Bob, a dentist, and Lisa, a dancer…
  7. ^ “Meet curious Chris”. Deccan Herald. India. ngày 27 tháng 5 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2009. This Irish Italian American…
  8. ^ Evans in “Sunshine – Chris Evans interview”. IndieLondon.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2009. Well my family is Italian and I grew up in the Catholic Church…
  9. ^ Potter, Maximillian (ngày 15 tháng 3 năm 2017). “Chris Evans Is Ready To Fight”. Esquire. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2019.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chris Evans trên IMDb
  • Chris Evans trên trang Box Office Mojo
  • Chris Evans trên Twitter
  • Phỏng vấn Chris Evans Lưu trữ 09260063822 tại Wayback Machine

Nguồn: https://sarajevopanorama.info
Danh mục: Tổng Hợp

sarajevopanorama